﻿#VAR(Table,TABLE)
#ADDTBL("VN3.tbl",Table)
#ACTIVETBL(Table)
#HDR($0)

#JMP($40)
_００<end>

_０１<end>

_０２<end>

_０３<end>

_０４<end>

_０５<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９６０年代 Những năm 1960<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　技術者マイケル．　ウォーレン（後のラクーンシティ市長）がラクーンシティの電化<line>
　を開始。Kỹ sư Michael Warren (sau là thị trưởng Raccoon<line>
  city) bắt đầu điện khí hóa Raccoon city.
<line>
．　アシュフォード家の５代目当主、エドワード．　アシュフォードが「始祖ウィルス」<line>
　の捜索に着手。Gia chủ đời thứ 5 của nhà Ashford là Edward<line>
  Ashford bắt tay vào việc nghiên cứu "virus thủy tổ".<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９６２年 Năm 1962<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　オズウェル．　Ｅ．　スペンサーが建築家ジョージ．　トレヴァーに洋館の設計、<line>
　建築を依頼。Ozwell E. Spencer nhờ kiến trúc sư George<line>
  Trevor thiết kế,xây dựng tòa trụ sở.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９６６年 Năm 1966<$A2><$04><$3F><$00><line>
<$9C><$04><$7E><$00>１２月 Tháng 12<line>
．　オズウェル．　Ｅ．　スペンサーがジェームス．　マーカス、エドワード．　アシュ<line>
　フォードらとともに生体の遺伝子を組み換えてしまう「始祖ウィルス」<line>
　を発見。Ozwell E. Spencer cùng James Marcus và Edward<line>
  Ashford phát hiện ra "virus thủy tổ" tái cấu trúc di truyền<line>
  tử (DNA) của sinh thể.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９６７年 Năm 1967<$A2><$04><$3F><$00><line>
<$9C><$04><$7E><$00>１１月 Tháng 11<line>
．　ラクーンシティ郊外アークレイ山中に洋館．　研究所完成。<line>
  Hoàn thành tòa trụ sở,viện nghiên cứu trên núi<line>
  Arklay thuộc ngoại ô Raccoon city.<line>
．　建築家のジョージ．　トレヴァーの妻ジェシカと娘のリサに「始祖ウィルス<line>
　変異体」が投与される。Jessica,vợ của kiến trúc sư Trevo<line>
  cùng con gái Lisa bị tiêm "thể biến dị của virus thủy tổ".<line>
　ジェシカはウィルスの定着化に失敗し廃棄処分に、リサはウィルスの<line>
　定着化に成功し、保護観察下に置かれる。Jessica bị xử lý loại<line>
  bỏ vì virus bám rễ thất bại,còn Risa được đặt dưới sự<line>
  giám sát bảo hộ vì virus bám rễ thành công.<line>

．　ジョージ．　トレヴァー、実験の被験体とされるが、廃棄処分となる。<line>
  George Treve được chọn làm thể thực nghiệm,nhưng<line>
  sau bị loại bỏ.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９６８年 Năm 1968<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　欧州でラクーンシティの路面電車製造開始、開通。<line>
  Bắt đầu chế tạo,khai thông xe điện thông dụng<line>
  ở Châu âu.<line>
．　オズウェル．　Ｅ．　スペンサーが、ジェームス．　マーカス、エドワード．　アシュ<line>
　フォードらとともにカモフラージュ企業である製薬会社アンブレラを設立。<line>
  Ozwell E. Spencer cùng James Marcus,Edward<line>
  Ashford thiết lập xí nghiệp ngụy trang là công<line>
  ty bào chế dược Umbrella.<line>
<$9C><$04><$7E><$00>７月 Tháng 7<line>
．　エドワード．　アシュフォードが「始祖ウィルス」に感染し死亡。<line>
　息子であるアレクサンダー．　アシュフォードがアシュフォード家の６代目当<line>
　主に就任。Edward Ashford nhiễm "virus thủy tổ",tử<line>
  vong.Con trai là Alexander Ashford trở thành gia<line>
  chủ đời thứ 6 của nhà Ashford.<end>

<$9C><$04><$7E><$00>８月 Tháng 8<line>
．　アンブレラがアークレイ山中に幹部養成所を設立。<line>
　ジェームス．　マーカス博士が初代所長に就任。<line>
  Umbrella thành lập sở đào tạo chóp bu trên<line>
  núi Arklay.James Marcus trở thành giám đốc<line>
  đầu tiên của công ty.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９６９年 Năm 1969<$A2><$04><$3F><$00><line>
<$9C><$04><$7E><$00>２月<line>
．　アレクサンダー．　アシュフォードがアンブレラ南極基地建設計画を始動。<line>
　地下に極秘プロジェクト「コード<$C0><$02><$3F><$00>ベロニカ」のための研究所を秘密裏に<line>
　設置。Alexander Ashford bắt đầu kế hoạch thiết kế<line>
  căn cứ Umbrella Nam cực.Dưới lòng đất có xây<line>
  dựng sở nghiên cứu bí mật để phục vụ cho<line>
  Project tối mật là "Code:Veronica".<line>
<$9C><$04><$7E><$00>１１月 Tháng 11<line>
．　アンブレラ南極基地及び研究所が完成。<line>
  Hoàn thành sở nghiên cứu và căn cứ địa<line>
  Nam cực của Umbrella.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９７１年 Năm 1971<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　「コード<$C0><$02><$3F><$00>ベロニカ」計画成功。<line>
　アルフレッド．　アシュフォード、アレクシア．　アシュフォードの双子の兄妹が<line>
　誕生。Kế hoạch "Code:Veronica" thành công.<line>
  Hai anh em sinh đôi Alfred Ashford và Alexia<line>
  Ashford chào đời.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９７７年 Năm 1972<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　アルバート．　ウェスカー、ウィリアム．　バーキンが幹部侯補としてアンブレラ<line>
　幹部養成所に配属。<line>
  Albert Wesker và William Birkin trực thuộc sở<line>
  đào tạo chóp bu của Umbrella với vai trò ứng<line>
  cử viên trở thành chóp bu của tập đoàn.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９７８年 Năm 1978<$A2><$04><$3F><$00><line>
<$9C><$04><$7E><$00>１月 Tháng 1<line>
．　ジェームス．　マーカス博士、「ｔ－ウィルス」の開発に成功。<line>
  Tiến sĩ James Marcus khai phá thành công "t-virus".<line>
<$9C><$04><$7E><$00>７月 Tháng 7<line>
．　アンブレラ幹部養成所の閉鎖が決定。<line>
  Quyết định đóng cửa sở đào tạo chóp bu Umbrella.<line>
　アルバート．　ウェスカー、ウィリアム．　バーキンとともに「ｔ<$D2><$02><$4D><$00>ウィルス」の<line>
　研究はアークレイ研究所に移行。<line>
　ジェームス．　マーカス博士は、養成所の施設を用い独自に研究を<line>
　続行。Di chuyển sở nghiên cứu "t-virus" cùng<line>
  Albert Wesker và William Birkin đến sở nghiên<line>
  Arklay. Tiến sĩ James Marcus dùng sở đào tạo<line>
  để tiếp tục nghiên cứu độc lập.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９８１年 Năm 1981<$A2><$04><$3F><$00><line>
<$9C><$04><$7E><$00>７月 Tháng 7<line>
．　アレクシア．　アシュフォードが１０歳にして有名大学を首席卒業。<line>
　アンブレラ南極研究所の主任研究員となる。<line>
  Alexia Ashford mới 10 tuổi đã tốt nghiệp hạng<line>
  nhất một trường Đại học danh tiếng,trở thành<line>
  nghiên cứu viên chủ nhiệm ở sở nghiên cứu<line>
  Nam cực của Umbrella.<line>
．　ウィリアム．　バーキンがアレクシア．　アシュフォードにライバル意識を抱く。<line>
  William Birkin mang ý thức cạnh tranh đối đầu<line>
  với Alexia Ashord.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９８２年 Năm 1982<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　アレクシア．　アシュフォード、父アレクサンダーに「ｔ－Ｖｅｒｏｎｉｃａ」を投与<line>
　するも、実験は失敗に終わる。<line>
　公には、当主アレクサンダーは謎の失踪として処理される。<line>
  Alexia Ashford tiêm "t-Veronica" cho cha mình<line>
  là Alexander,nhưng thử nghiệm thất bại.<line>
  Gia chủ Alexander được công khai là đã mất<line>
  tích một cách bí ẩn.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９８３年 Năm 1983<$A2><$04><$3F><$00><line>
<$9C><$04><$7E><$00>１２月 Tháng 12<line>
．　アルバート．　ウェスカーが「ｔ－ウィルス」の二次感染性を調査。<line>
　オズウェル．　Ｅ．　スペンサーの計画を疑問視。<line>
Albert Wesker điều tra nhiễm lần 2 đối với<line>
"t-virus",nghi ngờ kế hoạch của Ozwell.E.<line>
Spencer,bắt đầu có hứng thú với ý định thực<line>
sự của Spencer.<line>
．　アレクシア．　アシュフォードが「ｔ－Ｖｅｒｏｎｉｃａ」を自らに投与。<line>
　１５年間のコールドスリープに入る。<line>
　公には感染事故死と発表。<line>
Alexia Ashford tự tiêm "t-Veronica" cho chính<line>
mình,ngủ đông lạnh trong vòng 15 năm.<line>
Về mặt công khai thì được cho là chết vì<line>
sự cố nhiễm virus.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９８７年 Năm 1987<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　マイケル．　ウォーレンがラクーンシティの市長に就任。<line>
Michael Warren trở thành thị trưởng Raccoon city.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９８８年 Năm 1988<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　アルバート．　ウェスカーが、オズウェル．　Ｅ．　スペンサーの命令により<line>
　ジェームス．　マーカスを暗殺。<line>
Albert Wesker ám sát James Marcus theo<line>
lệnh của Ozwell.E.Spencer.<line>
．　ウィリアム．　バーキン主導による「ｔ－ウィルス」計画において、Ｂ．Ｏ．Ｗ．<line>
　の究極形態「タイラント」を開発。<line>
Dưới sự chỉ đạo của William Birkin qua kế<line>
hoạch "t-virus",B.O.W "Tyrant" được khai phá.<line>
．　アンブレラがヨーロッパ第六研究所において「ネメシス」計画を発動。<line>
Umbrella phát động kế hoạch "Nemesis" tại sở<line>
nghiên cứu thứ 6 ở âu châu.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９９１年 Năm 1991<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　アンブレラがラクーンシティの地下に巨大地下研究所を建設開始。<line>
Umbrella bắt đầu xây dựng sở nghiên cứu khổng<line>
lồ dưới lòng đất ở Raccoon City.<line>
．　オズウェル．　Ｅ．　スペンサーがウィリアム．　バーキン立案の「Ｇ－ウィルス」<line>
　計画を承認。同計画始動。<line>
Ozwell.E.Spencer thừa nhận ý tưởng<line>
"kế hoạch G-virus" của William Birkin,bắt đầu<line>
kế hoạch này.<line>
．　アルバート．　ウェスカー、情報部へ転属。<line>
Albert Wesker chuyển sang bộ tình báo.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９９２年 Năm 1992<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　アンブレラの援助金により、ラクーンシティの市庁舎が改修、総合病院<line>
　が設立。Umbrelle tung tiền viện trợ để trùng tu tòa<line>
  thị chính,thiết lập bệnh viện tổng hợp.<line>
　市庁舎にマイケル．　ウォーレン市長の銅像が設置される。<line>
  Tượng đồng của thị trưởng Micheal Warren được<line>
  dựng lên ở tòa thị chính.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９９３年 Năm 1993<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　ラクーン市警察署長ブライアン．　アイアンズがアンブレラと癒着。<line>
Brian Irons,trưởng sở Cảnh sát Raccoon city<line>
thỏa thuận với Umbrella.<line>
．　ウィリアム．　バーキンがラクーンシティ地下研究所に転属。ラクーン市警察<line>
　署長と密約を交わす。William Birkin thuyên chuyển sang<line>
  sở nghiên cứu dưới lòng đất Raccoon city,kết giao<line>
  mật ước với trưởng sở Cảnh sát Raccoon city.<line>
<line>
．　アルフレッド．　アシュフォードがイギリスの大学を卒業。アンブレラ南極基地<line>
　所長に就任。アンブレラ幹部となり、ロックフォート島の基地の司令官にも<line>
　就任。Alfred Ashford tốt nghiệp Đại học Anh quốc,trở<line>
  thành sở trưởng căn cứ địa Nam cực của Umbrella,<line>
  đồng thời cũng là tư lệnh quan căn cứ địa đảo Rockford.<end>

<$9C><$04><$7E><$00>１２月 tháng 12<line>
．　ロックフォート島に対Ｂ．Ｏ．Ｗ．対策部隊の軍事訓練所が完成。<line>
  Hoàn thành sở huấn luyện quân sự của lực lượng<line>
  đối sách chống B.O.W. trên đảo Rockfort.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９９４年 Năm 1994<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　アークレイ研究所に、ウィリアム．　バーキンの後任としてシカゴ研究所から<line>
　ジョンが赴任。John từ sở nghiên cứu Chicago đến sở<line>
  cứu Arklay để kế nhiệm William Birkin.<line>
．　アルフレッド．　アシュフォードがロックフォート島に私邸と刑務所を建設。<line>
  Alfred Ashford xây dựng tư dinh và nhà tù<line>
  trên đảo Rockford.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９９６年 Năm 1996<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　ラクーン市警管轄の特殊部隊「Ｓ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．」設立。隊長にはアルバート．　<line>
　ウェスカーが就任。Thiết lập đội quân đặc thù<line>
  "S.T.A.R.S." dưới sự quản lý của cục cảnh sát<line>
  thành phố Raccoon.Albert Wesker nhậm chức<line>
  đội trưởng.<line>
．　ハンク（後のアンブレラ特殊工作部隊員）が、ロックフォート島の訓練所<line>
　で軍事訓練を受ける。HUNK (sau là đội viên lực lượng<line>
  đặc biệt Umbrella) được huấn luyện quân sự tại<line>
  sở huấn luyện trên đảo Rockford.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>１９９８年 Năm 1998<$A2><$04><$3F><$00><line>
<$9C><$04><$7E><$00>５月 Tháng 5<line>
．　アンブレラ幹部養成所でジェームス．　マーカス博士の擬態が出現。<line>
Xuất hiện bản sao của tiến sĩ James Marcus<line>
tại sở đào tạo chóp bu của Umbrella.
<line>
．　アークレイ研究所において、大規模なウィルス漏洩事故。<line>
　研究所は壊滅。<line>
Xảy ra sự cố rò rỉ virus với quy mô lớn tại<line>
sở nghiên cứu Arklay.Sở nghiên cứu bị phá hủy.
<line>
．　ケルベロスによる最初の犠牲者。２０歳前後の女性のバラバラ死体が<line>
　発見される。<line>
Phát hiện tử thi rời rạc của nữ nhân khoảng 20 tuổi,<line>
nạn nhân đầu tiên của Cerberus.<end>

<$9C><$04><$7E><$00>６月 Tháng 6<line>
．　ケルベロス目撃情報がラクーンシティの週刊誌で報じられる。<line>
Thông tin mục kích Cerberus được đăng tải trên<line>
tạp chí tuần san của Raccoon city.<end>

<$9C><$04><$7E><$00>７月 Tháng 7<line>
．　アンブレラが、幹部養成所に２回に分けて調査隊派遣。<line>
　第一次調査隊が養成所内のＢ．Ｏ．Ｗ．によって全滅。<line>
Umbrella 2 lần phái đội điều tra đến sở đào tạo<line>
chóp bu.Đội điều tra lần đầu bị B.O.W. bên trong<line>
sở đào tạo tiêu diệt hoàn toàn.<line>
．　アークレイ山地で遭難者及び行方不明者が多発。ラクーン市が<line>
　Ｓ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．の捜査介入を決定。<line>
Phát sinh nhiều vụ gặp nạn và nhiều người không<line>
rõ tung tích tại vùng núi Arklay.Thị trưởng thành phố<line>
Raccoon quyết định phái S.T.A.R.S. điều tra.<line>
．　出動したＳ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．ブラヴォーチームのヘリが謎のエンジントラブル<line>
　により、アークレイ山中へ不時着。Trực thăng của đội<line>
Bravo thuộc S.T.A.R.S khi xuất hành gặp trục trặc<line>
động cơ một cách bí ẩn,buộc phải đám xuống<line>
núi Arklay.<end>

．　Ｓ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．ブラヴォーチームがアンブレラの黄道特急及び幹部養成所<line>
　跡地を調査。アンブレラ幹部養成所が消滅。<line>
Đội Bravo thuộc S.T.A.R.S. điều tra tàn tích sở<line>
đào tạo chóp bu và Hoàng đạo tốc hành của<line>
Umbrella.Sở đào tạo chóp bu Umbrella tuyệt diệt.<line>
．　連絡の途絶えたＳ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．ブラヴォーチーム捜索のため、同じくアルファ<line>
　チーム出動。Đội Alpha xuất phát để tìm kiếm đội<line>
Bravo thuộc S.T.A.R.S. liên tục mất tích.<line>
．　洋館事件発生。Phát sinh sự kiện tòa trụ sở.<line>
．　アルバート．　ウェスカーの正体がＳ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．ブラヴォーチームのエンリコ．　<line>
　マリーニ隊長にばれる。ウェスカーはエンリコを射殺。<line>
Thân phận của Alber Wesker bị đội trưởng đội<line>
Bravo thuộc S.T.A.R.S. là Enrico Marini phát giác.<line>
Wesker bắn chết Enrico.<end>
．　ウィルスに侵食されたアークレイ研究所．　洋館が自爆。<line>
　Ｓ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．アルファチーム４人、ブラヴォーチーム１人が生還。<line>
　（以下のリスト参照）<line>
Tòa nhà của sở nghiên cứu Arklay bị virus xâm thực,<line>
phát nổ.4 đội viên của đội Alpha và 1 người của đội<line>
Bravo thuộc S.T.A.R.S. sống sót trở về.<line>
(Xem danh sách bên dưới)<line>
<line>
<$08><$01><$3F><$00>クリス．　レッドフィールド Chris Redfield<line>
<$08><$01><$3F><$00>ジル．　バレンタイン Jill Valentine<line>
<$08><$01><$3F><$00>バリー．　バートン Barry Burton<line>
<$08><$01><$3F><$00>ブラッド．　ヴィッカーズ Brad Vickers<line>
<$08><$01><$3F><$00>レベッカ．　チェンバース Rebecca Chambers
<line>
．　アルバート．　ウェスカー、自爆直前のアークレイ研究所から脱出。<line>
Albert Wesker thoát khỏi sở nghiên cứu Arklay ngay<line>
trước khi phát nổ.<end>

<$9C><$04><$7E><$00>８月 Tháng 8<line>
．　元Ｓ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．隊員のクリス．　レッドフィールドは「Ｇ－ウィルス」の情報を<line>
　つかみ、ヨーロッパへ出発。反アンブレラを掲げる。<line>
Nguyên đội viên S.T.A.R.S. là Redfield nắm được<line>
thông tin của "G-virus",xuất phát đến Châu âu,<line>
lên tiếng phản đối Umbrella.<end>

<$9C><$04><$7E><$00>９月 Tháng 9<line>
．　ウィルスがネズミを媒介に流出、ラクーンシティの市街地全域がバイオ<line>
　ハザードに見舞われる。市街地では「人食い病」が多発。事件が報道される。<line>
Virus lưu xuất ra ngoài qua vật trung gian là<line>
chuột,toàn thành phố Raccoon gặp thảm họa<line>
sinh học.Phát sinh nhiều trường hợp mang<line>
"bệnh ăn thịt người" trong thành phố.Sự kiện<line>
này được truyền thông đăng tải.<line>
．　ウィリアム．　バーキンにより「Ｇ－ウィルス」完成。<line>
William Birkin hoàn thiện "G-virus".<line>
．　ゾンビ集団がラクーン市警察署内へ侵入。<line>
Bầy Zomvie thâm nhập vào trong sở Cảnh sát<line>
thành phố Raccoon.<line>
．　ラクーン市警察署が壊滅。ブライアン．　アイアンズ署長が狂乱。マイケル．　<line>
　ウォーレン市長は娘を置いてラクーン市を脱出。<line>
Sở Cảnh sát thành phố Raccoon bị hủy diệt.<line>
Sở trưởng Brian Irons phát cuồng.Thị trưởng Michael<line>
Warren bỏ con gái thoát khỏi thành phố Raccoon.<end>

．　Ｕ．Ｂ．Ｃ．Ｓ．（アンブレラ．　バイオハザード対策部隊）がラクーンシティに<line>
　到着、民間人救出作戦を開始。<line>
U.B.C.S.(đội đối sách chống thảm họa sinh học Umbrella)<line>
đến Raccoon city,bắt đầu tác chiến giải cứu dân chúng.<line>
．　新人警官レオン．　Ｓ．　ケネディがラクーンシティに到着。<line>
　同じ頃、クレア．　レッドフィールドも市内に到着。<line>
Tân cảnh viên Leon.S.Kennedy đến Raccoon City.<line>
Cùng lúc đó,Claire Redfield cũng vào thành phố.<line>
．　アンブレラが新型Ｂ．Ｏ．Ｗ．「ネメシス－Ｔ型」を投入。<line>
　元Ｓ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．隊員ジル．　バレンタインの追跡を開始。<line>
Umbrella thả B.O.W. kiểu mới là "Nemesis-kiểu T"<line>
Jill Valentine,nguyên đội viên S.T.A.R.S. thâm nhập<line>
vào Raccoon City.<line>
．　アンブレラが量産型タイラントをラクーン市内に投下。<line>
Umbrella thả Tyrant sản xuất đại trà vào trong<line>
thành phố Raccoon.<end>

．　レオン．　Ｓ．　ケネディとクレア．　レッドフィールドは救出したウィリアム．　バーキン<line>
　の娘シェリーを連れてラクーンシティを脱出。<line>
Leon.S.Kennedy và Claire Redfield giải cứu con gái của<line>
William Birkin là Sherry thoát khỏi thành phố Raccoon.<line>
．　米軍が介入し、市に戒厳令が発令される。<line>
Quân đội Mỹ được đưa vào,thành phố được phát<line>
lệnh giới nghiêm.<line>
．　Ｕ．Ｂ．Ｃ．Ｓ．の生存者がアンブレラの「監視員」ニコライ．　ジノビエフに利用<line>
　され、次々と死亡。ラクーンシティの病院が爆発。<line>
Người sống sót của U.B.C.S. bị Nicholai Ginovaef,giám<line>
thị viên của Umbrella lợi dụng và chết lần lượt.Bệnh<line>
viện Raccoon city phát nổ.<end>

．　エイダ．　ウォンとアンブレラ特殊工作部隊のハンクが、それぞれ<line>
　「Ｇ－ウィルス」のサンプルを回収。<line>
Aida Wong và Hunk thuộc đội công tác đặc thù<line>
Umbrella,mỗi người thu hồi mẫu "G-virus".<line>
．　ラクーンシティ地下研究所が消滅。<line>
Sở nghiên cứu dưới lòng đất của Raccoon city<line>
bị hủy diệt.<end>

<$9C><$04><$7E><$00>１０月 Tháng 10<line>
．　米国政府が「滅菌作戦」の決行を決議。<line>
　大統領命令によりラクーンシティがミサイル攻撃を受け、消滅する。<line>
Chính phủ Mỹ quốc quyết nghị "diệt khuẩn tác chiến".<line>
Tổng thống ra lệnh tấn công tên lửa,tiêu diệt<line>
Raccoon city.<end>

<$9C><$04><$7E><$00>１２月 Tháng 12<line>
．　クレア．　レッドフィールドがアンブレラ．　パリ研究所に潜入するも捕らえられ、<line>
　ロックフォート島の刑務所に投獄される。<line>
Claire Redfield xâm nhập vào sở nghiên cứu<line>
Umbrella ở Paris và bị bắt,đưa đi giam cầm ở<line>
hình vụ sở (tù) trên đảo Rockfort.<line>
．　アルバート．　ウェスカー率いる謎の特殊部隊が島を襲撃し、島全体に<line>
　「ｔ－ウィルス」が流出。<line>
Đội quân đặc thù do Albert Wesker cầm đầu,tập kích<line>
hòn đảo."t-virus" lưu xuất khắp đảo.<line>
．　ロックフォート島の刑務所から脱獄したクレア．　レッドフィールドが、電子<line>
　メールでレオン．　Ｓ．　ケネディに救助を要請。居場所が兄クリスに伝わる。<line>
Claire Redfield thoát khỏi hình vụ sở trên đảo Rockford,<line>
yêu cầu Leon.S.Kennedy cứu trợ thông qua mail điện tử.<line>
Địa điểm được liên lạc đến anh trai là Chris.<end>

．　ラクーンシティを脱出したジル．　バレンタインが、クリス．　レッドフィールドのアジト<line>
　に到着するが、クリスはすでにロックフォート島に出発。<line>
Thoát khỏi Raccoon city,Valentine tìm đến căn cứ<line>
của Chris Redfield,nhưng Chris đã xuất phát đến<line>
đảo Rockfort.<line>
．　アルフレッド．　アシュフォードがロックフォート島から脱出。<line>
Alfred Ashford thoát khỏi đảo Rockfort.<line>
．　クリス．　レッドフィールドがロックフォート島に到着後、アルバート．　ウェスカーと再会。<line>
Sau khi đến đảo Rockford,Chris Redfield gặp lại<line>
Albert Wesker.<end>

．　アンブレラ南極研究所でアレクシア．　アシュフォードがコールドスリープ<line>
　から目覚める。<line>
Alexia Ashford tỉnh giấc sau giấc ngủ đông lạnh<line>
tại sở nghiên cứu Nam cực của Umbrella.<line>
．　アルフレッド．　アシュフォードが死亡。<line>
Alfred Ashford tử vong.<line>
．　クレア．　レッドフィールドがアンブレラ南極基地で兄クリスと再会。<line>
　２人で協力してアレクシアを倒す。<line>
Claire Redfield gặp lại anh trai Chris tại căn cứ<line>
Umbrella Nam cực,hợp sức đánh bại Alexia.<line>
．　クリスとクレアがアンブレラ南極基地を脱出。同基地消滅。<line>
Chris và Claire thoát khỏi căn cứ Nam cực.<line>
Căn cứ địa này bị hủy diệt.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>２００２年 Năm 2002<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　ジャック．　クラウザー、事故を偽装して死を装いアルバート．　ウェスカー<line>
　率いる秘密組織に加わる。<line>
Jack Krauser ngụy trang sự cố,giả chết<line>
và tham gia tổ chức bí mật do Albert Wesker<line>
cầm đầu.<end>

<$A0><$04><$3F><$00>２００３年 Năm 2003<$A2><$04><$3F><$00><line>
<$9C><$04><$7E><$00>２月 Tháng 2<line>
．　アンブレラ．　コーカサス研究所（ロシア）におけるＢ．Ｏ．Ｗ．破壊作戦に<line>
　クリス．　レッドフィールドとジル．　バレンタインが参加。<line>
　新型Ｂ．Ｏ．Ｗ．「Ｔ－Ａ．Ｌ．Ｏ．Ｓ．」の破壊に成功。<line>
Chris Redfield và Jill Valentine tham gia tác chiến<line>
phá hủy B.O.W. ở sở nghiên cứu Umbrella Caucasus<line>
(Nga).Họ hủy diệt thành công B.O.W.kiểu mới là<line>
"T-A.L.O.S."<end>

<$A0><$04><$3F><$00>２００４年 Năm 2004<$A2><$04><$3F><$00><line>
．　アメリカ大統領の娘、アシュリー．　グラハムがロス．　イルミナドス教団に<line>
　誘拐される。（実行犯はジャック．　クラウザー）<line>
Con gái Tổng thống Mỹ là Ashley Graham bị giáo đoàn<line>
Los Illuminados bắt cóc. (thực ra là do Jack Krauser)<line>
．　アシュリーの警護役になる予定だったレオン．　Ｓ．　ケネディが、誘拐事件<line>
　の捜査を命じられる。<line>
Leon.S.Kennedy dự định trở thành cảnh vệ của Ashley,<line>
nay được lệnh điều tra sự kiện bắt cóc này.<end>

．　レオン．　Ｓ．　ケネディがヨーロッパのとある村にて、寄生体プラーガの卵を<line>
　植えつけられる。その後、同じく卵を植えつけられたアシュリー．　グラハムを<line>
　教会にて保護。<line>
Leon.S.Kennedy bị cấy trứng của thể ký sinh Plagas<line>
vào cơ thể tại một ngôi làng ở âu châu.Sau đó,Leon bảo<line>
vệ Ashley Graham,người cũng bị cấy cùng trứng tại giáo đường.<line>
．　レオンとアシュリー、古城に一時避難するも教団の信者であるサラザール<line>
　家８代目当主ラモン．　サラザールの手によってアシュリーが再び捕らわれ、<line>
　クラウザーに孤島へと連れ去られる。レオンはサラザールと対峙し、これを倒す。<line>
Leon và Ashley gặp nạn tại cổ thành.Ashley lại bị bắt<line>
vào tay Ramon Salazar,tín đồ của giáo đoàn và là gia<line>
chủ đời thứ 8 của Salazar.Ashley bị Krauser dẫn đến<line>
đảo hoang.Leon đối mặt,đánh bại Salazar.<end>

．　レオン．　Ｓ．　ケネディは孤島へ向かい、アシュリー．　グラハムと合流。<line>
　ジャック．　クラウザー及び教団の教祖オズムンド．　サドラーを倒す。<line>
　また、孤島にあった設備でレオンとアシュリーの体内の寄生体を除去。<line>
Leon.S.Kennedy tiến về đảo hoang,hợp lưu với Ashley<line>
Graham,đánh bại Jack Krauser và giáo chủ của giáo đoàn<line>
là Osmund Saddler.Leon loại trừ được thể ký sinh ra<line>
khỏi cơ thể Ashley nhờ thiết bị trên đảo.<line>
．　エイダ．　ウォンがレオンから寄生体のサンプルを奪取。<line>
Aida Wong cướp mẫu ký sinh thể từ Leon.<line>
．　レオンとアシュリー、ジェットスキーで孤島から脱出。<line>
Leon và Ashley thoát khỏi đảo hoang bằng Jet sky.<end>

_４０<end>

_４１<end>

_４２<end>

_４３<end>


Sau khi Raccoon city bị tiêu diệt,nhiều vụ tố tụng<line>
được tiến hành để truy cứu trách nhiệm,giáng một<line>
đòn nặng vào Umbrella.Nhưng có một đoàn thể chịu<line>
thương tổn nặng nề hơn Umbrella.Đó là "liên minh xí<line>
nghiệp chế dược",đoàn thể doanh nghiệp mà các công<line>
ty bào chế dược tham gia vào.<line>
Việc Umbrella khai phá,thực nghiệm "vũ khí thể sinh<line>
mạng hữu cơ (B.O.W.)" và lưu thông ra chợ đen đã làm<line>
giảm uy tín của toàn thể nền công nghiệp chế dược.<line>
Hơn nữa,việc Umbrella là công ty pháp lý của liên<line>
minh xí nghiệp chế dược cũng làm tình hình tệ hơn.<end>

Nhưng nếu chỉ có vậy không thì có thể sẽ ảnh hưởng<line>
xấu đến hình ảnh.Hiện tại,dược và y khoa là bất khả<line>
phân ly.Cũng có trường hợp nếu cần thiết,họ vẫn dùng<line>
thuốc mà không quan tâm đến hình ảnh.<line>
Nhưng việc tố tụng tiến triển thì tình hình bắt đầu<line>
thay đổi.Trong chứng cứ mà phía kiểm sát đưa ra<line>
bắt đầu xuất hiện nhiều cái tên của các xí nghiệp<line>
bào chế dược.<end>


Umbrella đã khéo léo vận dụng dược phẩm và kỹ thuật do<line>
các xí nghiệp bào chế dược khai phá để áp dụng vào mọi<line>
phương diện phát triển vũ khí.Chưa dừng lại tại đó,họ còn<line>
ủy thác một phần khai phá cho từng xí nghiệp chế dược để<line>
không bị phát giác là đang phát triển vũ khí sinh học.<line>
Các xí nghiệp bào chế dược ngày càng gánh vác thêm việc<line>
khai phá vũ khí sinh học mà họ không hề hay biết.<line>
Trong Liên minh cũng có những xí nghiệp xem vấn đề<line>
Umbrella với ánh mắt thờ ơ,chẳng liên quan.Nhưng đối<line>
với xí nghiệp là bị cáo thì chuyện lại khác.<end>


Rồi họ bị buộc phải chịu trách nhiệm về sự kiện mấy chục<line>
vạn người tử vong.Nếu thua kiện thì sự tồn vong của<line>
công ty sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.<line>
Nếu có vô tội thì hình ảnh xuống dốc sẽ khiến không bán<line>
được hàng,ảnh hưởng lớn đến sự chấp thuận từ phía<line>
chánh phủ các nước.Đối với doanh nghiệp chế dược,loại<line>
thuốc mà họ khai phá không được chấp thuận đồng nghĩa<line>
với việc tuyên bố phá sản.<line>
Vậy nên các công ty tham gia vào Liên minh xí nghiệp<line>
chế dược cũng đành phải kháng cự.<end>



Liên minh bào chế dược đề nghị hợp tác về mặt tư pháp<line>
với phía kiểm soát.Liên minh sẽ hợp lực để giải quyết toàn<line>
diện sự kiện lần này,và để đẩy Umbrella vào đường cùng<line>
thì bất cứ chuyện cơ mật nào của xí nghiệp cũng đều<line>
vui lòng cung cấp hết.<line>
Đề án này được phía kiểm soát,vốn nung nấy quyết tâm<line>
tiêu diệt Umbrella,vui vẻ chấp nhận và khởi tố các công<line>
ty trong Liên minh xí nghiệp bào chế dược.<line>
Năm 2003,toàn phán quyết Umbrella thua kiện toàn diện.<line>
Umbrella sụp đổ,tưởng đâu vụ scandal khủng khiếp toan<line>
kéo toàn thể giới bào chế dược vào cuộc,nay đã chấm dứt.<end>

Nhưng sự việc bắt đầu triển khai theo hướng bất ngờ.<line>
Umbrella sụp đổ,B.O.W.bắt đầu lưu xuất ra chợ đen<line>
khắp Thế giới.Một phần rơi vào tay các quốc gia,du<line>
kích và khủng bố nên B.O.W.trút mối đe dọa lên đầu<line>
cả thường dân.Vì vậy nên Liên minh xí nghiệp bào chế<line>
dược càng không thể không có cách xử lý.<end>

Rồi tổ chức BSAA (Bioterrorism Security Assessment Alliance),<line>
đội quân chống khủng bố sinh học được kết thành.<line>
Đương thời,BSAA chỉ gồm 11 thành viên ưu tối và dừng<line>
lại ở việc gửi quan sát viên đến các mặt trận chống khủng<line>
bố của quân đội và cảnh sát các nước.<line>
Nhưng hoạt động khủng bố bạo liệt hơn dự tưởng,nên<line>
với phương cách như vậy thì họ không thể đối phó hết<line>
được.<end>

Vì vậy,việc kết thành một lực lượng có khả năng ứng<line>
phó nhanh với tình hình được đem ra xem xét,nhưng<line>
về rốt ráo thì BSAA chỉ là tổ chức do dân nắm quyền.<line>
Chính vì vậy mà phát sinh hạn chế về việc điều tra,<line>
bắt bớ cũng như hành xử vũ lực đối với nước khác.<line>
Nhưng mối đe dọa của khủng bố sinh học càng lúc<line>
càng trở thành vấn đề của toàn Thế giới.<line>
Vậy nên BSAA được tái tổ chức như là một lực lượng<line>
chống khủng bố sinh học,nằm dưới quyền quản lý của<line>
Liên hợp quốc.<end>

Nếu là lực lượng đặc biệt do Liên hợp quốc quản lý thì<line>
có thể nói ở mức độ nào đó,tổ chức đã được các quốc<line>
gia trong Liên hợp quốc chấp nhận.<line>
Sự thực,về việc quyết nghị kết thành BSAA thì có 7 phần<line>
trong số các nước tham gia Liên hợp quốc chấp thuận BSAA<line>
hoạt động trong nước mình,những nước còn lại cũng đi đến<line>
việc cho phép hoạt động với một số hạn chế.<line>
BSAA hiện tại đã ra đời như vậy.<end>


Bản doanh của BSAA nằm ở Anh Cát Lợi,nhưng địa chỉ<line>
cụ thể thì không được công khai.<line>
Nếu là trong địa phận quản lý thì BSAA có khả năng triển<line>
khai lực lượng trong vòng 12 giờ đồng hồ.Vì vậy nên được<line>
cho là có cứ điểm ở gần các căn cứ không quân và sân<line>
bay trung chuyển.<line>
Và ngay cả trong cùng một chi bộ cũng tồn tại nhiều cứ<line>
điểm trong địa phận quản lý.<end>



Khu vực quản ký của các chi bộ BSAA như dưới đây.<line>
<line>
Bản doanh Châu âu<line>
　　<$B0><$04><$7E><$00>Khu vực Châu âu bao gồm cả Tây bộ nước Nga<line>
<line>
Chi bộ Trung Đông<line>
　　<$B0><$04><$7E><$00>Khu vực Trung Đông bao gồm một phần Phi châu<line>
<line>
Chi bộ Bắc Mỹ<line>
　　<$B0><$04><$7E><$00>Toàn khu vực Bắc Mỹ (Chris Redfield trực thuộc)<end>

Chi bộ Nam Mỹ<line>
　　<$B0><$04><$7E><$00>Toàn khu vực Nam Mỹ<line>
<line>
Chi bộ Tây bộ Phi châu<line>
　　<$B0><$04><$7E><$00>Tây bộ đại lục Phi (Sheva Alomar trực thuộc)<line>
<line>
Chi bộ Đông bộ Phi châu<line>
　　<$B0><$04><$7E><$00>Đông bộ đại lục Phi châu<line>
<line>
Chi bộ Cực Đông<line>
　　<$B0><$04><$7E><$00>Khu vực Á châu từ India (ấn độ viết hoa)<line>
trở về phía Đông và khu vực Cực Đông nước Nga<end>

Châu Đại Dương (<$CC><$04><$3B><$00>)<line>
　　<$B0><$04><$7E><$00>Khu vực châu Đại Dương mà trung tâm là Australia<line>
<line>
<$CC><$04><$3B><$00>Sở nghiên cứu Nam cực của Umbrella ở Nam cực,<line>
thuộc địa phận quản lý của chi bộ châu Đại Dương.<end>

BSAA có nhiều đơn vị hoạt động thực ở các chi bộ.<line>
Phần nhiều trong số đó là những người dày dạn kinh<line>
nghiệm trong quân đội,cảnh sát và lực lượng đặc biệt<line>
của các nước.<line><line>
Lực lượng nhân viên hỗ trợ cho các đơn vị này cũng<line>
được điều động nhiều từ nhân viên chức đang công tác<line>
trong tổ chức chánh phủ của các nước.<line>
Họ là tập đoàn chuyên gia hỗ trợ cho đơn vị hoạt động<line>
thực ở nhiều phương diện,như kỹ thuật,y thuật,thể chất<line>
và tinh thần.<end>

Đơn vị hoạt động thực của BSAA được chia làm 2<line>
chủng loại lớn.<line><line>
Đầu tiên là "đơn vị tác chiến đặc biệt" (<$0C><$01><$3B><$00>Special Operations Unit)<line>
và các đội viên trực thuộc.<line>
Họ hành động theo nhóm và là chuyên gia đột nhập,giao<line>
chiến cũng như trấn áp.<line>
Về cơ bản thì đơn vị này có quy mô 12 người,và cũng có<line>
khi 12 người này phân thành 4 tổ 3 người để hành động.<end>


Đặc trưng của SOU là tính mềm dẻo trong việc vận dụng<line>
nhân sự.Tùy vào quy mô tác chiến mà họ có thể cho các<line>
tổ của mình hợp lưu với đội khác,hay trong hợp đồng tác<line>
chiến,cũng có ghi chép rằng họ đã cho người tham gia<line>
tác chiến với hơn 70 người ưu tú từ các chi bộ khác.<line>
Việc phân người như vậy được tiến hành hàng ngày.<line><line>
Trong tác chiến này,đội Alpha do Dan DeChant chỉ huy,<line>
nhưng đây vốn là đội được lập tức thời,thành viên gồm<line>
viên dưới quyền DeChant trộn lẫn với các tổ của đội khác.<line>
(Cho nên đội Alpha chỉ là cách gọi được sử dụng trong<line>
lần tác chiến này mà thôi)<end>


Có thể nói cách vận dụng đơn vị đặc biệt như thế này là<line>
kết quả khảo sát sở trường của các mặt vận dụng,quản lý<line>
trong cách phân chia đội từ trước nay,mà theo cách làm<line>
sẵn có thì không thể đối ứng hết được trong việc chiến<line>
đấu chống vũ khí sinh học.<end>

Một loại nữa là "Thành viên quan trọng trong tác chiến<line>
đặc biệt" (<$0C><$01><$3B><$00>Special Operations Agent).<line>
Bình thường,họ thường được gọi đơn giản là Agent.<line>
Nếu SOU hoạt động theo nhóm thì Agent hoạt động cá nhân<line>
đơn lẻ.Agent nhận nhiệm vụ chủ yếu về điều tra,hoạt động<line>
tình báo.Nói cách khác,đó là con mắt của BSAA.<line>
Và nếu tính chất của tác chiến không cho phép đưa quân<line>
vào công khai thì cũng có khi Agent sẽ lãnh phần.<line>
Trong trường hợp đó thì cơ bản là chia thành đơn vị<line>
cơ bản tối thiểu 2 người để thực hiện tác chiến.<end>

Và trong Agent cũng có người nhận nhiệm vụ tác chiến<line>
vượt khỏi phạm vi chi bộ.Phần nhiều những trường hợp<line>
đó là Agent truy đuổi các hoạt động phi pháp diễn ra ở<line>
khu vực phức tạp.Chris Redfield là một người trong số<line>
đó trong tác chiến lần này.<line>
Vì Agent có năng lực hành động đơn độc nên thường được<line>
đánh giá cao hơn đội viên SOU,nhưng thực tế là họ được<line>
lựa chọn nghiêm mật ở các mặt tâm lý,tính thích hợp hơn<line>
là mặt năng lực,kỹ thuật.Vì vậy nên nếu so sánh các mặt<line>
năng lực đơn lẻ thì đội viên SOU tỏ ra ưu tú hơn cũng không<line>
phải điều lạ lùng.<end>

Như vậy,BSAA là tổ chức công khai mang yếu tố đa quốc<line>
tịch,nhưng từ quá trình hình thành thì có thể thấy sự thật<line>
được biết tới rộng rãi là phần lớn nguồn tiền cung cấp cho<line>
hoạt động là do Liên minh xí nghiệp bào chế dược chi ra.<line>
Tình trạng này nhiều lần trở thành tâm điểm phê phán,nhưng<line>
nếu không còn nguồn cung cấp tiền thì các nước tham gia<line>
liên minh sẽ phải gánh chịu,nên tình trạng vẫn chưa được<line>
cải thiện.<line>
Còn đối với Liên minh xí nghiệp bào chế dược thì việc chu<line>
cấp cho BSAA là một hành động quảng bá hình ảnh của toàn<line>
thể giới chế dược,nên có thể thấy mối quan hệ này sẽ còn<line>
kéo dài khá lâu.<end>



Cuối cùng là 11 người trực thuộc từ khi kết thành BSAA<line>
được gọi là "Original Eleven" với ý tôn kính trong đội.<line>
Việc này xuất phát từ cách gọi Original Seven đối với<line>
7 phi hành gia Vũ trụ được tuyển chọn qua kế hoạch<line>
Mercury của Mễ quốc.<line>
Original Eleven bao gồm cả Chris Redfield,hiện tại đang<line>
hoạt động cùng mấy người đồng đội.<end>

_２１<end>

_２２<end>

_２３<end>

_２４<end>

_２５<end>

_２６<end>

_２７<end>

_２８<end>

_２９<end>

_３０<end>

Đó là sinh mệnh thể ký sinh gọi là Plaga,vốn đã bị phong<line>
ấn dưới lòng đất của tòa thành nơi nhà Salazar,một dòng<line>
tộc lâu đời ở Châu âu thống trị.<line>
Sinh mệnh thể Plaga này ký sinh vào con người,đồng hóa<line>
với trung khu thần kinh khiến con người đó mất đi lý tính,<line>
nó nhận mệnh lệnh từ giống Plaga khác gọi là giống cai trị<line>
(hoặc con người bị nó ký sinh) để tấn công con người.<line>
Người bị nó ký sinh tuy mất lý tính nhưng không mất đi<line>
các năng lực của con người,vẫn có thể trao đổi ý chí<line>
với nhau bằng lời nói.<line>
Ngoài ra,nó còn có đủ sự giảo hoạt để sử dụng công<line>
cụ,dùng bầy đàn để dồn kẻ thù vào đường cùng.<end>

Trong báo cáo Leon Report do Leon.S.Kennedy ghi lại<line>
thì những con người ở trạng thái này được gọi là<line>
"Ganado".<line>
Trong tác chiến lần này,sự tồn tại của loại Plaga này<line>
đã được xác nhận.Tại sao loại Plaga đã được xác nhận<line>
ở Châu âu nay lại xuất hiện ở Phi châu?<line>
Có thể thấy đằng sau đó là sự tồn tại của Ricardo Irving.<end>

Theo thông tin BSAA có được với sự hinh sinh tính mệnh<line>
của đội Alpha thì loại Plaga này chính là Plaga kiểu mới<line>
với độ thuần khiết cao,được cải tiến về mặt di truyền học,<line>
sinh vật học sau khi bị thu hồi ở Châu âu,và được sử dụng<line>
như một loại vũ khí.<line>
Loại Plaga cải tiến này được gọi là "Plaga Type 2" trong<line>
giới phát triển nó.Việc này có thể thấy qua các tài liệu<line>
liên quan.<end>


Đặc trưng của Type 2 chính là phương thức ký sinh của nó.<line>
<line>
Loại Plaga ban đầu được xác nhận ở Châu âu ký sinh vào<line>
con người ở trạng thái trứng.Nó nảy nở,trưởng thành trong<line>
cơ thể người rồi chiếm quyền chi phối tinh thần.<line>
Tuy nhiên Type 2 lại ký sinh vào con người ở trạng thái<line>
trưởng thành.Và phương thức ký sinh của nó là qua<line>
đường miệng,tức là chui vào từ miệng.<end>

Cách thức thô bạo này khiến Type 2 chi phối tinh thần<line>
vật chủ ngay tức khắc,so với việc kéo dài vài giờ cho<line>
tới vài ngày của loại Plaga ban đầu.<line>
Về điểm này thì hẳn đây là kết quả của việc nâng cao<line>
tính tiện dụng của nó như một loại vũ khí.<line>
Và các đội viên BSAA tham gia tác chiến cũng đã mục<line>
kích tình hình ký sinh của nó.<end>

Người bị Type 2 ký sinh sẽ mất đi lý tính,tuân theo<line>
mệnh lệnh mà tấn công người khác.<line>
(Với tiền đề là vận dụng nó như một loại vũ khí thì có<line>
thể xem việc người nắm quyền ra lệnh không hẳn là<line>
Plaga cai trị)<line>
Có lý tính của bản thân nó,còn năng lực cơ thể thì dựa<line>
vào năng lực của người bị ký sinh là những điểm mà<line>
Type 2 được thừa hưởng từ loại ban đầu.<end>

Người ta nhận thấy nó có hành động cho các Plaga khác<line>
ký sinh một cách tích cực để gia tăng đồng bọn,nên nó<line>
còn được suy đoán là đã được nâng cao tính phát tán<line>
như một loại vũ khí.<line>
Dựa theo tài liệu có được thì những con người bị nhiễm<line>
Type 2 này bị giới thương nhân vũ khí gọi là "Majini".<line>
Theo tiếng địa phương thì từ này có nghĩa là "oán hồn".<line>
Vì có tên mã là Type 2 nên người ta dự đoán là còn tồn<line>
tại những kiểu cải tiến 3,4 nữa.Nhưng hiện tại vẫn chưa<line>
xác nhận được sự hiện diện của những loại này.<end>



_０７<end>

_０８<end>

_０９<end>

_１０<end>

Sự nghiệp bắt đầu ở không quân Mễ quốc.<line>
Với ý chí quật cường,không suy suyễn trong bất cứ<line>
tình huống nào,cùng những nỗ lực không ngừng và một chút<line>
may mắn,Chris Redfield đã nhận được vị trí phi công lái<line>
chiến đấu cơ.<line>
Vì tính cách thẳng thắng nên tuy đã đánh cược hết tiền<line>
đồ vào đường phi công nên đương thời,Chris có nhiều<line>
ý kiến đối lập với cấp trên.<line>
Quan hệ đối lập đó không được giải tỏa,nên chẳng bao<line>
lâu sau thì Chris chọn đường rút lui.<end>


Sau khi nghỉ việc,vì năng lực bắn súng siêu việt,có kỹ<line>
thuật cận chiến và khả năng lái trực thăng và máy bay<line>
cánh cố định,nên Chris được S.T.A.R.S. để mắt đến.<line>
Đó là lực lượng đặc biệt trực thuộc cảnh sát Raccoon city.<line>
Sau khi gia nhập S.T.A.R.S. thì Chris trở thành một PM<line>
(Point Man) trong đội Alpha.PM là người do thám đi tiên<line>
phong trong đội,có nhiệm vụ trinh sát trận địa địch.<line>
Vì tính chất nhiệm vụ như vậy nên vị trí này không chỉ<line>
cần tài bắn súng,kỹ thuật chiến đấu cao độ mà còn đòi<line>
hỏi khả năng ứng dụng,sử dụng cao độ nhiều loại súng<line>
khác nhau với phạm vi rộng.<end>


Về điểm đó thì Chris cực kỳ xuất sắc,có tài sử dụng một<line>
cách chính xác và linh động tùy theo tình huống đối với<line>
các loại từ súng ngắn cho đến hỏa khí hạng nặng.<line>
彼はその点も非常に優秀で、小銃から重火器まで必要に応じて柔軟か<line>
つ的確に扱う才能を持ち合わせていた。<end>

Nhiệm vụ ở S.T.A.R.S. thuận lợi đối với Chris cho đến<line>
tháng 7 năm 1998,khi tình hình đổi chiều.<line>
Đội Bravo của S.T.A.R.S. mất liên lạc trong ngọn núi<line>
lân cận với Raccoon city.<line>
Đội Alpha trong đó có Chris trên đường điều tra đã đụng<line>
độ con chó hoang hung bạo (sau này biết được đó là B.O.W.,<line>
một vũ khí sinh mệnh hữu cơ,gọi là Cerberus),bị tập kích<line>
và bị dồn đến phải chạy vào dinh thự gần đó.<end>

Tòa dinh thự đó chính là sở nghiên cứu Arkley,điểm khai<line>
phá và thực nghiệm vũ khí sinh vật do xí nghiệp bào chế<line>
dược với quy mô Thế giới là Umbrella điều hành.<line>
Tại đây,Chris cùng cộng sự Jill Valentine buộc phải chiến<line>
đấu với nhiều kiểu B.O.W. dưới âm mưu của Albert Wesker.<line>
Wesker là đội trưởng S.T.A.R.S.,tức cấp trên của Chris và<line>
Valentine,đồng thời cũng là thành viên của cục tình báo<line>
Umbrella.Hắn ta định thu thập dữ liệu chiến đấu qua các<line>
tình huống bằng việc thả nhiều B.O.W. vào dinh thự.<end>

Thảm sự ở sở nghiên cứu Arklay này được biết đến với<line>
tên gọi "sự kiện dinh thự" và kết mạc bằng cái chết của<line>
Wesker,Tyrant bị Chris và Jill tiêu diệt,và bản thân sở<line>
nghiên cứu tự phát nổ.<line>
この通称「洋館事件」と呼ばれるアークレイ研究所での惨事は、<line>
ウェスカーの死亡とクリスとジルによるタイラントの破壊、そして<line>
研究所の自爆により幕を閉じた。<end>

Sau khi trở về,Chris tố cáo tính nguy hiểm của Umbrella<line>
và sự kiện thảm họa ở dinh thự đi khắp nơi,nhưng tầng<line>
lớp trên của Raccoon city vốn hưởng lợi từ hơi hám của<line>
Umbrella chẳng nghe theo,mà ngay cả chính phủ cũng<line>
chẳng thèm để tâm.<line>
Đối thủ là một tổ chức khổng lồ,có tầm ảnh hưởng mạnh<line>
mẽ.Nhưng việc này đã châm ngọn lửa đấu tranh trong<line>
lòng Chris.<line>
Để tự mình tiến hành điều tra,Chris chẳng cáo từ gia<line>
đình mà xuất phát chu du sang Châu âu.<line>
(Đáng lý phải là âu viết hoa châu viết thường mới<line>
đúng,nhưng đã trót không vẽ chữ â viết hoa vào bộ font<line>
nên đành chấp nhận thế này thôi,lười quá)<end>

Việc này là vì Chris không muốn gây nguy hiểm cho gia<line>
đình,nhưng mặt trái của nó đã xuất hiện.<line>

Em gái là Claire Redfield vì không liên lạc được với anh<line>
trai nên đâm lo lắng,tìm đến Raccoon city.<line>
Claire bị cuốn vào sự hỗn loạn tột độ của Raccoon city do<line>
t-virus mang lại,rồi gặp Leon.S.Kennedy tại đó,cùng nhau<line>
chiến đấu thoát khỏi đường cùng.<line>
Dựa trên những sự thật nắm bắt được trong sự kiện này,<line>
Claire đến Châu âu đuổi theo Chris,nhưng lại rơi vào<line>
tay Umbrella.<end>


Nghe Leon nói lại sự thật đó,Chris tiến về đảo Rockfort,<line>
nơi Claire đang bị giam giữ để cứu em gái.<line>
Tại đó,Chris đối mặt trực tiếp với nhiều sự thật.<line>
その事実をレオンから伝え聞いたクリスは、妹を救出するため、クレアが<line>
捕らえられているロックフォート島へと向かった。<line>
そこでクリスは、様々な事実と直面することとなる。<end>


アンブレラ南極研究所。Sở nghiên cứu Nam cực của Umbrella.<line>
<line>
アレクシア．　アシュフォード。Alexia Ashford.<line>
<line>
ｔ－Ｖｅｒｏｎｉｃａウィルス。t-Veronica virus.<line>
<line>
……そして、アルバート．　ウェスカー。...Và Albert Wesker.<line>
<end>

Kẻ chủ mưu trong sự kiện toàn dinh thự.<line>
Cũng là cấp trên của mình,tưởng chừng đã chết.<line>
Hắn ta lại đứng sau giật dây trong âm mưu sự<line>
kiện này.<line>
Và Chris phải đối mặt với kẻ nhân duyên sâu đậm này.<line>
Wesker đã vứt bỏ mặt con người,năng lực chiến đấu<line>
của hắn áp đảo Chris.<line>
Nhưng sau trận khổ chiến,Chris cũng giành được thắng lợi.<line>
Nhìn Wesker biến mất trong ngọn lửa,Chris lại quyết ý<line>
tiêu diệt Umbrella,nguồn cơn của mọi chuyện ác.<end>

Thời gian thấm thoát thoi đưa,chẳng mấy chốc<line>
đã sang hai nghìn lẽ ba (2003).<line>
Chris có mặt ở Lộ Tây Á (Russia,Nga La Tư).<line>
Bên cạnh anh là người cộng sự cũ,Jill Valentine.<line>
Lúc này,Umbrella bị đẩy vào bước đường cùng.<line>
Bị truy cứu trách nhiệm vụ Raccoon city sụp đổ,cơn bão<line>
kiện tụng ập lên đầu không lúc nào ngớt.<line>
Cổ phiếu thì xuống giá thê thảm.<line>
Sự sụp đổ của Umbrella chỉ còn là vấn đề thì gian.<end>

Giữa lúc đó,Chris nhận được tin báo rằng Umbrella đang<line>
tiến hành kế hoạch khai phá một loại B.O.W. mới.<line>
Đó là kế hoạch "T-A.L.O.S." được tiến hành bí mật tại<line>
sở nghiên cứu Caucasus ở đất Lộ Tây Á này.<line>
Nắm được thông tin,2 người cùng lực lượng chống vũ khí<line>
sinh học ở địa phương tập kích vào sở nghiên cứu.<line>
Và họ đã nhổ được cái mầm của tai họa.<line>
Rồi chẳng bao lâu sau,Umbrella sụp đổ.<end>

Nhưng hạt giống tai ách mà Umbrella đã gieo đã bắt đầu<line>
nở hoa mang màu bóng tối khắp Thế giới.<line>
Không chỉ ở các khu vực tranh chấp,B.O.W. còn được dùng<line>
vào việc khủng bố thường dân.<line>
Được tổ chức với mục đích tiêu diệt nó,Chriss tham gia<line>
vào BSAA cũng là việc đương nhiên.Và Jill cũng vậy.<line>
Chris và Jill,hai người đồng chí tin cậy lẫn nhau,nay<line>
cùng đứng lên chống lại bọn tội phạm vũ khí sinh học khắp<line>
Thế giới.Nhưng từ đây,cái bóng của Umbrella đã in đậm<line>
xuống vận mệnh của họ.<end>

Hai người khởi hành để tóm cổ Ozwell E.Spencer,kẻ sáng<line>
lập Umbrella.Nhưng chỉ thấy xác chết của Ozwell và cừu<line>
địch Wesker đứng sững ở đó,với bàn tay đẫm máu.<line>
Chris lại quyết chiến Wesker lần thứ ba (3).<line>
Nhưng sự việc kết thúc bằng một bi kịch.Jill và Wesker<line>
cùng rơi xuống bờ vực không đáy.<line>
Mặc dù BSAA đã tìm kiếm 3 tháng,nhưng vẫn không<line>
phát hiện được thi thể của Jill.<end>


Kết quả là Jill được BSAA chính thức thừa nhận là<line>
đã chết.<line>
Đứng trước ngôi mộ không người nằm trong,Chris đã thề<line>
điều gì.Không ai rõ.<line>
Chỉ biết,anh ta càng bùng cháy thêm nhiệt tâm điều tra,<line>
tiêu diệt tội phạm vũ khí sinh học,mạnh mẽ hơn trước đây.<line>
Tuy trực thuộc chi bộ BSAA Bắc Mỹ,nhưng phạm vi điều tra<line>
của Chris rộng khắp Thế giới.Và số lần tham gia tác chiến<line>
của anh cũng đứng đầu trong các đội viên BSAA.<end>


Trong vòng xoáy đó,Chris nhận được tin báo Ricardo<line>
Irving sẽ tiến hành giao dịch B.O.W. với quy mô lớn ở<line>
Phi châu.<line>
Irving là kẻ bán ngầm vũ khí sinh học mới được nghe đến<line>
trong thế giới ngầm thời gian gần đây.<line>
Sau khi thông báo với chi bộ Phi châu,Chris bày tỏ chí<line>
nguyện muốn tham gia tác chiến bắt giữ Irving.<line>
その渦中で、クリスはリカルド．　アーヴィングがアフリカで大規模なＢ．Ｏ．Ｗ．<line>
の取引を行うという情報を入手する。<line>
アーヴィングとは、最近裏の世界でよく名前を耳にする生物兵器の密売<line>
人である。<line>
クリスは情報をアフリカ支部に通報後、アーヴィング逮捕作戦に志願を<line>
する。<end>

Việc này là có ẩn ý của Chris.<line>
Cái tên của người cộng sự cũ thấp thoáng sau những<line>
thông tin.<line><line>
Không chừng cô ấy vẫn còn sống...<line>
Không tiết lộ cho ai,mang chút hy vọng và sự quyết tâm<line>
trong lòng,Chris tiến về vùng đất,nơi phát tích của<line>
nhân loại.<line>
Và tại vùng đất này,anh lại lần nữa chống lại thảm họa<line>
sinh học.<end>


_１８<end>

_１９<end>

_２０<end>

_２１<end>

_２２<end>

_２３<end>

_２４<end>

_２５<end>

_２６<end>

Thành phố nơi cô ra đời từng có một nhà máy.<line><line>
Nhà máy thứ 57 của Umbrella.<line>
Tuy chỉ là một nhà máy cũ kỹ,nhưng nó là nguồn tiền<line>
quan trọng mang lại sự phồn vinh cho thành phố.<line>
Người lớn trong phố thì hết 8 phần đều làm việc cho nhà<line>
máy.Cha mẹ của Sheva cũng không phải ngoại lệ.<line>
Tiền cha mẹ kiếm được tuy không nhiều nhưng sự ổn định<line>
cũng đủ cho Sheva trải qua một thời ấu thơ sung túc.<end>

Nhưng hạnh phúc ấy chẳng kéo dài bao lâu.<line>
Năm 8 tuổi,khi cô đang chơi đùa cùng bạn bè trên phố<line>
như bao lần khác,bỗng nhiên có tiếng còn hụ thổi bay<line>
cả không khí vui vẻ đang bao trùn quanh mình.<line>
Tiếng còi phát ra từ phía nhà máy.<line><line>
Cùng lúc là làn cột khói đen quái gỡ bốc lên.<line><line>
Có chuyện gì không hay đang xảy ra.<line><line>
Sheva cảm thấy như vậy,vội chạy về nhà máy.<end>


Nhưng không vào được nhà máy.<line>
Không có báo bảo vệ già mọi khi vẫn mĩm cười để lũ<line>
trẻ vào trong,nay chỉ toàn những người lớn xa lạ.<line>
Họ đội những chiếc mặt nạ trùm kín đầu,nên không<line>
thể biết được nét biểu camrln
"Trang bị bảo hộ chống thảm họa sinh học.<line>
Chắc là lực lượng đặc biệt của Umbrella rồi".<line>
Sheva thì thầm.<end>

Giọng nói bít bùng từ bên dưới lớp mặt nạ thật khó nghe,<line>
nhưng khẩu súng bắn tỉa trong tay họ đang chĩa về đám<line>
Sheva quá đủ để truyền đạt ý muốn của họ.<line>
Tuy ít thấy ở gần thành phố,nhưng tại cái đất nước bất<line>
ổn về chính trị này thì có lắm nhóm du kích chống chính<line>
phủ.Tuy là trẻ con nhưng Sheva cũng hiểu được tính bạo<line>
lực của mấy khẩu súng họ cầm.<line>
Trong lúc đó thì đám người lớn còn lại trong phố cũng<line>
đổ về,nhưng không ai dám chống lại kẻ mang bình xịt<line>
lửa phát sáng lùng bùng trong tay.<line>
Sheva bị một người lớn trong xóm kéo day dẫn về nhà.<end>

Đêm đó là đêm dài nhất đời Sheva.<line>
Không ngủ được,cô bé chằm chằm nhìn ra cửa suốt đêm.<line>
Trời đã sáng,vầng dương đã bắt đầu đổ dài bóng mà cha mẹ<line>
cô bé vẫn không trở về.<line><line>
Đêm lại đến,cô cảm thấy có hơi người ngoài cửa.<line>
Sheva bật dậy,xông đến bên cánh cửa.<line>
Vì mãi ngồi nên cơ chân đã cứng đờ,nhưng cô bé không<line>
bận tâm tới điều đó.<line>
Như muốn ngả,cô bé mở tung cánh cửa,thét lớn.<end>

"Bố mẹ đã về!"<line><line>
Không phải bố mẹ cô bé,mà là ông chú họ hàng xa<line>
đang tròn xoe mắt kinh ngạc.<line>
Rồi chú nói sẽ nhận nuôi Sheva,bất chấp tâm trạng của<line>
cô bé ra sao.Ông chú nhanh tay gom hết tài sản,đồ đạc<line>
trong nhà,chất lên xe tải rồi chở theo Sheva về nhà mình<line>
ở cách đó khá xa.<end>

Nhưng cuộc sống ở đó cũng chẳng dài lâu.<line>
Nhà chú nghèo,lại có 7 người con.Nếu không vì tính toán<line>
với số tiền bồi thường từ nhà máy thì dù có là huyết thống<line>
đi nữa cũng chẳng thèm nhận nuôi Sheva đâu.<line><line>
Nhưng rồi tính toán của ông chú đã trật.<line>
Không nhận được tiền đền bù của Umbrella.<line>
Ông chú càu nhàu với bà thím "nhà máy sập tiệm rồi",<line>
còn đối với Sheva thì sao cũng kệ mẹ nó.<line>
Kể từ ngày hôm đó,cô bé không còn được ăn uống đầy đủ<line>
nữa.Đó mới là vấn đề lớn.<end>

Cái bụng rỗng càng khiến cô bé thêm thương yêu,nhớ tiếc<line>
về bố mẹ nhiều hơn.Và rồi Sheva nghĩ,không chừng bố mẹ<line>
hãy còn sống.<line>
Đúng rồi,mình vẫn chưa thấy xác họ mà!<line>
Suy nghĩ đó ngày càng mạnh thêm.Hai (02) tháng sau,Sheva<line>
bỏ trốn khỏi nhà ông chú trong một đêm trăng tròn soi sáng<line>
đồng cỏ savanna,tìm về nơi thành phố quê hương.<end>

Tình cảm của Sheva đối với bố mẹ rất mạnh mẽ.<line>
Nhưng cái rộng lớn của đồng cỏ savanna thừa sức đập<line>
nát suy tưởng của cô.Đêm thứ hai,nguồn dinh dưỡng không<line>
đủ đã khiến Sheva ngả xuống.<line><line>
Đêm trên đồng savanna ồn ào hơn bất cứ ai nghĩ.<line>
Tiếng chân,tiếng rống của các loài súc sinh,tiếng côn<line>
trùng kêu,tiếng lá cỏ xào xạo trong cơn gió khô.<line>
Đối với Sheva,một cô bé lớn lên ở thành thị thì đó là<line>
một phát hiện mới mẽ.Nhưng những thứ đó gần như đã<line>
trở nên vô nghĩa.<end>


Lúc đó,có âm thanh quen thuộc vọng vào tai.<line>
Tiếng động cơ trầm trầm,tiếng lốp xe cắn vào đá sỏi.<line>
Có lẽ do bất cẩn hay sao,mà còn nghe lẫn cả tiếng<line>
lách cách.<line>
Một chiếc xe tải.<line>
Chiếc xe dừng ngay chỗ Sheva.<line>
Người đàn ông bên ghế phụ lái nhìn ra Sheva rồi đằng<line>
hắng hai,ba tiếng.Sheva chẳng nhớ được lúc đó mình đã<line>
đáp lại như thế nào nữa.<line>
Người đàn ông ôm Sheva lên thùng xe.Rồi,rời khỏi chỗ ấy.<end>

Người đó là thành viên của một tổ chức du kích chống<line>
chánh phủ.Ông ta cho Sheve một bữa ăn ấm áp,một chỗ ngủ<line>
thoải mái.Đồng thời cũng nói luôn một sự thật tàn khốc.<line>
Sự cố ở nhà máy không phải là một tai nạn bình thường.<line>
Vũ khí sinh học được chế tạo ở nhà máy.<line>
Đó là cuộc thử nghiệm cuối cùng,nhưng họ sử dụng nhà máy<line>
đã cũ kỹ mục nát.Lôi kéo cả công nhân viên không hề hay<line>
biết gì đang làm việc ở đó.<line>
Cả bố của Sheva...Và cả mẹ cô bé...<end>

Sau khi thử nghiệm kết thúc,để che giấu sự thật,Umbrella<line>
đã xông xáo cùng chánh phủ,cho động viên quân đội phá<line>
hủy cả nhà máy lẫn thành phố.<line>
Một cách triệt để.<line>
Thành phố quê hương của cô bé,nay chẳng còn.<line>
Sheva căm phẫn.<line>
Hận Umbrella cướp đi bố mẹ mình chỉ vì lý do bố láo.<line>
Thù luôn cả cái chánh phủ vuốt đuôi Umbrella.<line>
Rồi cô bé quyết ý gia nhập tổ chức du kích chống chánh phủ.<end>


Ban đầu chỉ làm những việc lặt vặt như nấu ăn,giặt giũ.<line>
Nhưng sau mấy năm,Sheva đã được cầm súng.<line>
Cô không muốn kể nhiều về thời du kích.<line>
Có thể là do không có nhiều kỷ niệm đẹp,hay chính cô<line>
thấy xấu hổ với hành động thời trẻ của mình.<line><line>
Đã 7 năm trôi qua kể từ khi Sheva nương thân nơi nhóm<line>
du kích.Một ngày nọ,Sheva xuống phố để đi thu mua.<line>
Thu mua là một nhiệm vụ quan trọng của cô.<end>


Tuy đã sinh hoạt nhiều năm trong tổ chức sinh hoạt du<line>
kích,nhưng Sheva cũng chỉ là một thiếu nữ mười mấy tuổi.<line>
Đôi khi,chỉ cần che giấu đi ánh mắt sắc bén thì người<line>
ta cũng chẳng lấy làm quái lạ về sự có mặt của cô<line>
bé trong phố.<line>
Một người đàn ông đến gần Sheva.<line>
Trông có vẻ như dân địa phương,nhưng trong ngữ điệu<line>
cảm thấy có pha chút giọng ngoại quốc.<line>
Người đàn ông đưa cho Sheva đang cảnh giác một tờ<line>
memo,rồi nhanh miệng nói như vầy như vầy.<line>

長年ゲリラとしての生活を続けているとは言え１０代の少女である。<line>
時々見せる鋭い眼光を封じ込めれば、街中にいてもそう怪しまれることは<line>
ない。<line>
そのシェバに一人の男が近づいてきた。<line>
地元の人間に見えたが、その言葉にかすかな外国語訛りが感じられた。<line>
男は警戒するシェバに一枚のメモを渡すと、早口でこう告げた。<end>

"Đọc memo đi.Nếu tin thì hãy đến giáo đường ở con hẻm<line>
sau 2 tiếng nữa."<line>
<line>
Người đàn ông chỉ nói vậy rồi biến mất trong đám đông.<line>
Sheva nhận tấm memo không mảy may đắn đo là vì cô bé<line>
nhìn thấy trên đó một từ đã từng biết.<line><line>
"Umbrella"<line>
Là xí nghiệp bào chế dược đã cướp đi sinh mạng của cha<line>
mẹ cô chỉ vì cuộc thử nghiệm bố láo.<line>
Nếu không có cuộc thử nghiệm đó thì cô đâu có làm du kích.<end>

//「メモを読め。信じるなら、２時間後、裏通りにある教会に来い」<line><line>
//それだけ告げると男は雑踏の中に消えた。<line>
//シェバがそのメモを素直に受け取ったのは、そこに見覚えのある単語を<line>
//目にしたからだった。<line><line>
//「アンブレラ」<line><line>
//身勝手な実験でシェバの両親を奪った製薬企業。<line>
//あの実験さえなければ、ゲリラに身を落とすこともなかっただろう。<end>

Tờ memo rằng như vầy.<line><line>
Tổ chức du kích chống chánh phủ mà Sheva đang trực thuộc<line>
đang âm mưu lật đổ chánh phủ với một kế hoạch khủng bố<line>
bằng vũ khí sanh học trên quy mô lớn.<line>
Vì vậy mà tới đây chúng sẽ giao dịch với Umbrella.<line>
Và họ muốn Sheva giúp đỡ để ngăn chặn cuộc giao dịch.<end>

//メモにはこうあった。<line>
//<line>
//シェバが所属する反政府ゲリラが大規模な生物兵器テロを計画して<line>
//おり、それにより政府転覆を狙っている。<line>
//その為、近々アンブレラとの取引を行うらしい。<line>
//そして、シェバに、その取引阻止の手助けをして欲しい、と。<end>

Tưởng chừng là cái bẫy của phía chánh phủ,nhưng trực<line>
giác cho hay đó là sự thực.<line>
Tại sao lại nghĩ vậy?Nhìn lại thời đó,Sheva kể rằng<line><line>
"Vì đất nước đó chịu ảnh hưởng mạnh của Pháp quốc nên<line>
phần nhiều viên chức nhà nước đều có cách nói pha lẫn<line>
Pháp ngữ,nhưng người đàn ông kia thì khác.Lúc đó tuy<line>
không hiểu được,nhưng chất giọng của ông ta có pha<line>
chút Anh ngữ".<line><line>
Trực cảm của cô đã đúng.<line>
Sheva đã gặp hai người đờn ông ở giáo đường.<end>
//政府側の罠かとも思ったが、真実だと直感した。<line>
//なぜそう思ったのか、当時を振り返り、シェバはこう語る。<line>
//<line>
//「あの国はフランスの影響が強いから、フランス語っぽいしゃべり方をする<line>
//　役人は多くいたけど、あの男は違った。あの時は分からなかったけど、<line>
//　ほんの少しだけ英語訛りがあったの」<line>
//<line>
//直感は正しかった。<line>
//シェバは教会で二人の男に会った。<end>

Một người trong đó là người đã đưa tờ memo.<line>
Người kia mặc com lê,thắt cà vạt và tự giới thiệu là<line>
"nhân viên của chánh phủ Mễ quốc".<line><line>
Mục đích của người mặc com lê rất đơn giản.<line>
Là tiêu diệt Umbrella,chỉ vậy thôi.<line>
Lần giao dịch này sẽ có một gã đờn ông đến hiện trường.<line>
Hình như hắn ta đang nắm giữ chìa khóa gì đó.<line>
Và họ nói muốn nhờ Sheva giúp đỡ để bắt hắn.<line>
Và nếu bắt được hắn rồi thì họ không quan tâm gì đến<line>
tổ chức du kích nữa.<end>

//一人はさっきメモを渡してきた男。<line>
//そしてもう一人のノーネクタイのスーツ姿の男は、自らを「アメリカ政府の<line>
//職員」と名乗った。<line><line>
//スーツ男の目的はシンプル。<line>
//アンブレラの壊滅、ただそれだけだった。<line>
//今回の取引で、ある男が現場に現れる。<line>
//その男が何らかの鍵を握っているらしい。<line>
//また、その男を逮捕するため、シェバの手助けが欲しいと言うのだ。<line>
//そして、その男を逮捕することができればゲリラには興味がないと言う。<end>

Không bắt giữ,cũng không giao cho chánh phủ.<line>
Người đàn ông com lê đã hứa như vậy.<line>
Cô nghĩ,lời của người đàn ông com lê chắc là thật.<line>
Nhưng như vậy là phản bội những người đồng chí lâu năm...<line>
Dường như nhìn thấy sự phân vân,ông ta hỏi Sheva<line><line>
"Có căm Umbrella không?"<line><line>
Sheva gật đầu không cần nghĩ ngợi.<line>
逮捕もしなければ、政府に引き渡すこともない、スーツ男はそう約束した。<line>
スーツ男の話は、真実のように思えた。<line>
しかし、長年の仲間を裏切ることになる……<line>
その迷いを見透かしたかのように、彼はシェバに問いかけてきた。<line>
「アンブレラが憎いか<？>」<line>
シェバは、一も二もなくうなずいた。<end>

"Đó là lý do chúng tôi chọn cô.Còn nữa,nếu muốn đánh<line>
Umbrella thì hãy từ bỏ đám đồng chí bây giờ đi."<line><line>
"Vậy,các ông sẽ trở thành bạn?"<line>
"Đúng vậy.Chúng vốn là tổ chức du kích phản chánh phủ.<line>
Vì mục đích,chúng bất chấp thủ đoạn.Nhưng chúng tôi thì<line>
khác,chỉ chọn phương thức đúng cho mục đích đúng đắn."<line><line>
"Ngài nói hay quá.Nhưng ngài trông đợi gì ở một cô bé<line>
15 tuổi?"<line>
「それが我々が君を選んだ理由だ。それともう一つ、アンブレラと戦い<line>
たければ、今の仲間と手を切ることだ」<line>
「で、あんた達の仲間になれって<？>」<line>
「そうだ。しょせんは反政府ゲリラだ。目的のためには手段を選ばない。<line>
だが我々は違う。正しい目的のために、正しい手段のみを選ぶ」<line><line>
「ご立派なこと。だけどさ、１５歳の小娘になに期待しているわけ<？>」<end>

"Không liên quan tới tuổi tác.Chỉ cần căm ghét Umbrella<line>
và có sức mạnh,ý chí chiến đấu mạnh mẽ thì đã là người<line>
đồng chí tuyệt vời của chúng tôi rồi.<line>
...Mà đúng ra,có vẻ cô bé cần suy nghĩ về cách nói<line>
chuyện với người lớn tuổi hơn nhỉ".<line><line>
Nói vậy,người đàn ông com lê bật cười mỉa mai.<line>
「歳は関係ない。アンブレラを憎み、そして戦う意志と力があるならば<line>
　立派に我々の仲間だ。<line>
　……もっとも、年上に対する口のきき方は少し教え込む必要が<line>
　ありそうだがな」<line>
<line>
そう言うと、スーツ男は皮肉たっぷりに笑った。<end>

3 ngày sau,lực lượng đặc biệt tập kích vào hiện trường<line>
giao dịch.<line>
Sheva mở khóa cửa vào của tòa nhà dùng làm nơi giao<line>
dịch,dùng chiếc micro nghe trộm để chuyển tình hình hiện<line>
trường đến cho lực lượng đặc biệt đang đợi.<line>
Tác chiến thành công.<line>
Gã đàn ông,người của Umbrella là mục đích của tác chiến,<line>
đã nhanh chóng bị bắt giữ và bị dẫn đi khỏi hiện trường.<line>
Sau đó,Sheva không còn thấy hắn đâu nữa.<end>


Cả Sheva và những người đồng chí du kích đều bị bắt giữ<line>
và bị dẫn đến tòa lãnh sự Mễ quốc.Nhưng 2 ngày sau thì<line>
đồng chí của cô được thả.<line>
Sau khi đưa tiễn,Sheva leo lên phi cơ riêng của người<line>
mặc com lê đã chuẩn bị sẵn.<line>
Trong tay cô nắm mảnh hộ chiếu Mễ quốc.<line><line>
Sheva được đào tạo toàn diện tại Mễ quốc.<line>
Vốn thông minh,cô thành thạo Anh ngữ trong nửa năm,<line>
và sức học thăng tiến đến độ vào Đại học 2 năm sau.<line>
Dĩ nhiên,trong thời gian đó thì cũng bị chỉnh nhiều về<line>
mặt giao tiếp,bao gồm cả cách thưa gửi ăn nói với<line>
người lớn tuổi hơn.<end>

Sau khi tốt nghiệp Đại học,theo lời khuyên của người đàn<line>
ông com lê,thay cho người giám hộ,thì Sheva gia nhập<line>
đội BSAA vừa mới thành lập.<line>
Tuy Umbrella đã sụp đổ mấy năm trước,nhưng chí nguyện<line>
của Sheva đâu chỉ giới hạn ở mỗi Umbrella.<line>
Sau khi gia nhập và kết thúc thời gian huấn luyện cơ bản,<line>
Sheva được phân bổ vào phân đội do Josh Stone chỉ huy.<line>
Và qua 8 tháng huấn luyện kinh nghiệm thực chiến,Sheva<line>
được chọn lựa làm điệp viên của BSAA.<line>
Và rồi cô bắt đầu hoạt động khắp Thế giới.<end>


_２４<end>

_２５<end>

_２６<end>

_２７<end>

_２８<end>

_２９<end>

_３０<end>

_３１<end>

_３２<end>

_３３<end>

_３４<end>

_３５<end>

Bề ngoài,hắn ta là sở trưởng của mỏ dầu thuộc bộ phận khai<line>
thác tài nguyên của Tricell,chi nhánh Phi châu.<line>
Tính cách ngang ngược,tự cao.Thái độ lấc cấc.Và là kẻ<line>
theo chủ nghĩa tôn thờ đồng tiền.<line>
Vì tính cách đó,hắn được bổ nhiệm vào vai trò mang tính<line>
cửa sổ để tuồn vũ khí sinh mệnh thể hữu cơ (B.O.W.) đã<line>
khai phá ra ngoài chợ đen.<line>
Lợi nhuận do giao dịch ngầm mà hắn tiến hành được dùng<line>
như nguồn cấp tiền để chi nhánh Phi châu khai phá vũ khí<line>
sinh học.Và cũng vì tiến hành thử nghiệm vận dụng vũ khí<line>
sinh học kiêm hàng mẫu luôn nên có thể nói,hắn là một<line>
nhân vật trong số ít người nắm được toàn cảnh nền công<line>
nghiệp khai phá vũ khí sinh học.<end>

Nhưng hoạt động của hắn được che giấu như chẳng liên quan<line>
gì tới chi nhánh Phi châu của Tricell cả.Nguồn tiền hắn<line>
cung cấp cho BSAA bên ngoài là trên danh nghĩa bộ phận<line>
khai thác tài nguyên chứ không phải bộ phận bào chế dược<line>
cũng là vì vậy.<line><line>
(Tricell là liên hợp xí nghiệp được thành lập từ 3 bộ<line>
phận là "hải vận","khai thác tài nguyên" và "chế dược".<line>
Vì mỗi bộ phận có chế độ điều hành kinh tế riêng biệt<line>
nên khác bộ phận có thể xem là khác công ty.Và dĩ nhiên<line>
cũng không thể làm lơ bức tường ngăn cách giữa các<line>
chi nhánh với nhau)<end>

Vì vậy,khi BSAA nắm được thông tin giao dịch lần này<line>
được nhìn nhận là hành vi phạm pháp của cá nhân hắn.<line>
Cho nên,tác chiến lần này không phải là "tác chiến chống<line>
vũ khí sinh học" mà được đề án như là "tác chiến bắt bớ<line>
kẻ buôn bán ngầm".<line>
Và trong đó có sơ hở mà Irving nhắm vào.<line>
よって、今回ＢＳＡＡが取引の情報を掴んだ際も、彼の個人的な違法行<line>
為として認識されていた。<line>
そのため、今回の作戦は「対生物兵器作戦」ではなく、「密売人の逮捕<line>
作戦」として立案されたという経緯がある。<line>
そして、そこにアーヴィングがつけ込む隙があった。<end>

Nắm được thông tin tác chiến,Irving đổi điểm giao dịch<line>
sang núi khoáng ở ngoại ô khu tự trị Kijuju.<line>
Hắn cho giăng bẫy ở bên trong khu tự trị,nơi mà phía<line>
BSAA nghĩ rằng đó là điểm giao dịch.<line><line>
Trước khi lực lượng đến hiện trường thì hắn đã gieo rắc<line>
"Plaga kiểu cải tiến" mới được khai phá để biến toàn dân<line>
trong khu vực thành "Majini".<line>
Việc này được suy đoán là để đe dọa đội yểm trợ (gồm<line>
2 thành viên là Chris Redfield và Sheva Alomar) và để thu<line>
thập dữ liệu ở giai đoạn trước khi cho lưu thông thương<line>
phẩm ra thị trường đen.<end>


Và để đối phó với đội Alpha đột nhập,hắn đã chuẩn bị<line>
Uroboros Virus điên loạn.Phát nhắm đã trúng mục tiêu<line>
ngoạn mục,khiến đội Alpha do Dan DeChant lãnh đạo<line>
bị tiêu diệt.<line><line>
Nhưng điều hắn không ngờ tới là việc Uroboros Virus điên<line>
loạn lại bị Chris và Sheva đánh bại.Và việc đĩa cứng chứa<line>
một phần thông bị cướp đi cũng nằm ngoài dự định.<line>
Vì vậy mà Chris và Sheva đã biết được điểm giao dịch<line>
thực sự nằm ở núi khoáng.<end>

Đối mặt trực tiếp với tình huống không ngờ tới,Irving<line>
buộc phải ra chiêu tiếp theo.Hắn liên lạc với đối tác<line>
để hoãn cuộc giao dịch rồi tiến về núi khoán để thu gom<line>
các loại tư liệu,giấy tờ.<line>
Và đang trong lúc đó thì Chris và Sheva bước vào.<line>
Nhưng đối với hắn thì tình huống đó nằm trong tầm<line>
dự báo.<end>

Irving được người trùm kín mũ đang đợi bên ngoài xông<line>
vào cứu thoát và bỏ chạy mất.<line>
Đối phó với 2 người,hắn thả Popokarimu (B.O.W. được<line>
khai sinh từ nền tảng dơi) đã chuẩn bị vốn để sử dụng cho<line>
cuộc giao dịch.<line>
Điều này được xem là,chỉ là cơn bực dọc mang tính cá<line>
nhân của Irving khi bị đẩy vào tình huống bất ngờ trong<line>
cuộc giao dịch.Đằng sau bộ mặt doanh nhân theo chủ nghĩa<line>
hợp lý lại là một khía cạnh trẻ con như vậy,đó là bản<line>
chất của nhân vật Irving này.<end>

Tình huống bất ngờ lại còn tiếp diễn.<line>
Irving chạy thoát khỏi núi khoáng đã bị đội Delta do<line>
Josh Stone chỉ huy đang đợi sẵn trong khu tự trị phát<line>
hiện.Nhờ sử dụng Ndes (B.O.W. dựa trên nền tảng El<line>
Higante đã xác nhận ở Châu âu) vốn dự định dùng cho<line>
cuộc giao dịch mà hắn thoát khỏi đường cùng.<line>
Không chỉ thất bại giao dịch,mà cả 2 con B.O.W. kiểu<line>
khổng lồ đều mất khiến hắn căm phẫn cực độ.<end>


Phán đoán là không thể thoát khỏi thanh trừng,nên Irving<line>
lên kế hoạch ngầm thu gom tài sản đã tích trữ được rồi<line>
bỏ trốn,nhưng ngay sau đó lại bị nhân vật đội mũ trùm<line>
chặn lại.<line>
Nhân vật đó chĩa mũi kim tiêm mang Plaga vào Irving.<line>
Chúng muốn hắn dùng nó để đánh bại Chris và Sheva như<line>
một kiểu chịu trách nhiệm.<line>
Nhưng loại Plaga bên trong ống tiêm không phải là Plaga<line>
bình thường,mà là "Plaga cai trị".<end>

Theo như tư liệu của BSAA thì loại Plaga cai trị đã được<line>
xác nhận là sử dụng mấy lần trong sự kiện mà Leon<line>
S.Kennedy gặp phải ở Châu âu.<line>
Khác với Plaga thông thường,dù bị ký sinh nhưng vật chủ<line>
không bị kiểm soát ý thức nhưng cơ thể có nhiều biến đổi<line>
tột bậc.Việc để cho loại Plaga cai trị ký sinh vào đồng<line>
nghĩa với việc từ bỏ cuộc sống như một con người.<line>
支配種プラーガは、ＢＳＡＡの資料によるとレオン．　Ｓ．　ケネディが欧州で遭<line>
遇した事件でも、何度か使用が確認されている。<line>
通常のプラーガと違い、寄生されても意識を支配されることはないが、体<line>
に著しい変化をもたらしてしまう。<line>
支配種プラーガを寄生させることは、人間として生きることをあきらめるの<line>
と同義であった。<end>

Đối với Irving thì việc mỏ dầu phát nổ chẳng qua chỉ là<line>
trò nghịch ác cuối cùng mà thôi.Vì vốn nguồn dầu yên<line>
ngủ dưới lòng đất của khu mỏ đã khô cạn rồi.<line>
Nếu hủy diệt được chứng cớ,Chris và Sheva bỏ mạng trong<line>
vụ nổ thì không cần thiết phải dùng đến loại Plaga cai trị.<line>
Đối với hắn,đó là ván cược lớn,đặt cả tính mệnh lên đó.<line>
Nhưng dù vậy,hắn cũng đã không thắng được.<line><line>
Kết quả là Irving tự tiêm Plaga cai trị cho bản thân.<line>
Bằng hình dung đã biến đổi xấu xí,hắn khiêu chiến 2 người<line>
nhưng lực bất tòng tâm,đành phải chào đón phút cuối đời<line>
đến bên mình.<end>


_１１<end>

_１２<end>

_１３<end>

_１４<end>

_１５<end>

Họ dựng nhà bằng gỗ với lối kiến trúc độc đáo ở vùng đầm<line>
lầy và sống ở đó.Kỹ thuật kiến trúc cao độ của họ được<line>
biết đến rộng rãi và được dùng để phục hưng những di tích<line>
bị tàn phá khắp Thế giới.<line>
Đó là diện mạo của bộ tộc Ndipaya mà thiên hạ biết<line>
đến rộng rãi.<line>
沼地に独自様式の木造建築を作り、そこに居住。<line>
高度な建築技術は広く知られており、世界中の破壊された遺跡の復興<line>
で活躍している。<line>
それが、世間でよく知られているンディパヤ族の姿である。<end>

Nhưng họ còn có những bí mật quyết không chịu tiết lộ<line>
cho kẻ bên ngoài bộ tộc.Đó là sự tồn tại của quần thể<line>
di tích rộng lớn bên dưới lòng đất.<line><line>
Từ thời xa xưa,vùng này đã tồn tại một quốc gia lớn với<line>
thể chế Vương chánh.Quần thể di tích khổng lồ này được<line>
cho là Vương đô thời kỳ ấy.<line>
だが彼らには、部族の者以外には決して漏らさぬ秘密があった。<line>
それが地下に広がる大遺跡群の存在である。<line>
<line>
はるか昔、この近辺にはンディパヤ族が治める一大王政統治国家が<line>
存在した。<line>
大遺跡群は、その当時の王都であったと伝えられている。<end>

Điểm cần chú ý là cách thức chọn ra người cai trị<line>
của họ.Mặc dù quốc gia này theo thể chế Vương chánh<line>
nhưng không có chuyện cha truyền con nối.<line>
Kẻ trở thành vua không đòi hỏi xuất thân chánh thống,<line>
mà cần phải đối mặt với một nghi thức để cho vạn dân<line>
thấy rõ năng lực và tư cách của mình.<line>
Nghi thức này sử dụng một loài thực vật chỉ sống ở<line>
"khu vườn Thái dương" nơi thâm sâu nhất của Vương đô.<line><line>
Loài thực vật đó được gọi là "bậc thang Thái dương"<line>
theo tiếng địa phương.<end>
//特筆すべきは、その統治者選出方法である。<line>
//この国家は王政でありながら世襲制ではなかった。<line>
//王になろうとする者は、生まれの確かさではなく、その能力と資質を万民に<line>
//示すため、ある儀式に挑戦する必要があったというのだ。<line>
//儀式では、王都の深部にあるという「太陽の庭」でのみ生育するある植物<line>
//を用いた。<line>
//<line>
//その植物は、現地の言葉で「太陽の階段」と呼ばれていた。<end>

Bậc thang Thái dương có độc tính rất mạnh,khiến những<line>
kẻ ăn phải hầu hết phải bỏ mạng.Nhưng cũng xuất hiện ít<line>
người vượt qua được độc tính mãnh liệt của nó.<line>
Người thắng được chất độc được toàn dân ca tụng là người<line>
có năng lực vượt khỏi con người và có thể ngồi vào ngai vua.<line><line>
(Về nghi thức này thì hiện tại vẫn còn thấy tàn tích của<line>
nó trong lễ hội trấn an linh hồn tổ tiên mà tộc Ndipaya<line>
tổ chức mỗi năm 1 lần)<line>
太陽の階段は非常に毒性が強く、食する者のほとんどを死に至らしめた。<line>
だが、稀にその毒に打ち勝つ猛者が現れた。<line>
毒に打ち勝った者は、その対価として人を超えた能力と人々の賞賛、<line>
そして王の座を得ることができたという。<line>
（この儀式については、現在でもンディパヤ族が年に１回行う祖先の<line>
霊を慰める祭りの中で、その名残を見ることができる）<end>

Tuy nhiên,người chịu được loại độc đó cực kỳ hiếm nên<line>
mãi chẳng thấy xuất hiện kẻ mạnh mẽ như vậy,nên nay<line>
vẫn còn truyền thuyết rằng một vị vua đã thống trị Vương<line>
quốc trong mấy trăm năm.<line><line>
Truyền thuyết này là chứng cớ của vị vua có được năng lực<line>
mới sống qua mấy trăm năm,hay được sinh ra từ việc truyền<line>
miệng không chính xác.Hiện tại không có cách gì để xác<line>
minh được.<line><line>
Tuy nhiên,Vương quốc từng phồn vinh cực độ này đã<line>
suy thoát và diệt vong,đây là sự thật rõ ràng.<end>
//ただし、その毒に対抗しきれる者は極めて稀で、そのような猛者が現れな<line>
//かったため、一人の王が数百年王国を統治したという言い伝えも残され<line>
//ている。<line>
//この伝承が、新たな能力を得た王が数百年の時を生きたという証左な<line>
//のか、不正確な口伝によって生み出されたただの伝説なのかは、現在<line>
//では確かめるすべはない。<line>
//<line>
//しかし、繁栄を極めたであろうこの王国も衰退し、滅亡したのは確かな事<line>
//実である。<end>

Tại sao người Ndipaya lại bỏ Vương đô mà chuyển đến sống<line>
ở khu đầm lầy.Về lý do đó thì hiện chỉ còn lại những truyền<line>
thuyết không chính xác nên không biết được.<line><line>
Nhưng sau khi rời khỏi Vương đô,tộc Ndipaya xem đó là<line>
nơi thần thánh và không tiết lộ sự tồn tại của nó cho kẻ<line>
bên ngoài bộ tộc.<line>
Và tộc Ndipaya còn có truyền thống phái con trai từ 13<line>
đến 25 tuổi đến cảnh bị Vương đô trong 2 năm để bảo<line>
vệ vùng đất này.<end>
//なぜンディパヤ族の人々が王都を捨て、沼地にその住居を移したのか。<line>
//その理由については、いくつかの不正確な伝承が残されているのみで<line>
//よく分かってはいない。<line>
//<line>
//だが、ンディパヤ族の人々は王都を離れた後もその地を神聖視し、その<line>
//存在を部族外の者に明かすことはなかった。<line>
//さらには、ンディパヤ族の男は１３歳から２５歳の間に２年間、王都を警<line>
//備する兵士として派遣されることをしきたりとしてこの地を守った。<end>

Nếu công khai thì quần thể di tích khổng lồ dưới lòng đất<line>
này có thể khiến người ta phải viết lại cả lịch sử văn<line>
mình Thế giới,chứ không chỉ của riêng Phi châu.Nhờ những<line>
nỗ lực như vậy của tộc Ndipaya mà sự tồn tại của nó vẫn<line>
kéo dài đến hiện nay mà không một ai biết tới.<line><line>
Nhưng đã có một xí nghiệp đánh hơi được bí mật của khu<line>
di tích này.Đó là vào những năm 1960.<line>
Bọn chúng dùng vũ lực để thâm nhập vào vùng đất này với<line>
mục đích là loại thực vật được dùng trong nghi thức.<line>
Đương nhiên,tộc Ndipaya đã phản kháng dữ dội.<line>
Thời bình,họ là những người kỹ thuật ưu tú.Nhưng đến<line>
thời chiến thì lột xác thành những chiến sĩ dõng mãnh.<line>
Họ chính là tộc Ndipaya.<end>
//公表されればアフリカだけではなく、世界の文明史さえも書き換える可能<line>
//性があるこの巨大地下遺跡群は、このような彼らの努力で現代まで誰に<line>
//も知られることなく存在し続けた。<line>
//<line>
//だが、ある企業がこの遺跡の秘密をかぎつけた。１９６０年代のことである。<line>
//彼らは件の儀式で使われていた植物目当てに、武力をもってこの地へ進<line>
//出してきたのだ。<line>
//当然、ンディパヤ族の人々は必死で抵抗した。<line>
//平時は優秀な技術者だが、戦時には勇猛な戦士へと変貌する。<line>
//それが、彼らンディパヤ族である。<end>

Với các loại binh khí độc đáo và năng lực thể xác ưu<line>
việt,họ đã chiến đấu dũng cảm.<line>
Nhưng về mặt số lượng thì họ bị áp đảo bất lợi.<line>
(người ta cũng cho rằng vì có nhiều người trẻ muốn có năng<line>
lực vượt khỏi sức người mà nói ra bậc thang Thái dương)<line>
Kết quả là họ đành phải nhường lại khu đất tính từ khu<line>
vườn Thái dương trở vào sâu bên trong cho xí nghiệp nọ.<line><line>
Nhưng họ vẫn chưa bỏ cuộc.<line>
Họ vẫn đang mong đợi một ngày nào đó,sẽ có vị vua mới<line>
xuất hiện và giành lại toàn bộ Vương đô cho bộ tộc.<end>
//独自の兵器と優れた身体能力を武器に、彼らは勇敢に戦った。<line>
//だが、数の面で圧倒的に不利だった。<line>
//（人を超えた能力を得るため太陽の階段を口にした若者が多くいた<line>
//ためとも言われている）<line>
//その結果、彼らは太陽の庭より奥の地区を、その企業に割譲せざるを<line>
//得なかったのである。<line>
//<line>
//だが、彼らはまだあきらめてはいない。<line>
//いずれの日か新たな王が現れ、王都全域を取り戻す日を待ち望んで<line>
//いるのである。<end>

_０７<end>

_０８<end>

_０９<end>

"U-8" là một loại vũ khí sinh học sinh mệnh thể hữu cơ<line>
(B.O.W.) được khai sinh ra trong kế hoạch khai phá vũ<line>
khí sinh học lợi dụng sinh mệnh thể ký sinh "Plaga".<line><line>
Nó được phối hợp,cải tạo từ di truyền tử của nhiều loại<line>
sinh vật khác nhau,nhưng di truyền tử của loài giáp xác<line>
được phản ánh qua bề ngoài của nó rõ ràng nhất.<line>
Kết quả là đã có được bộ giáp vững chắc của loài<line>
giáp xác.<line>
Theo báo cáo thử nghiệm đánh giá tính năng thì năng<line>
lực phòng vệ vô song của bộ giáp đó được cho là có thể<line>
chịu được cú bắn thẳng của RPG.<end>
//「Ｕ－８」は、寄生生命体「プラーガ」を利用した兵器開発プロジェクトで<line>
//生み出された有機生命体兵器（Ｂ．Ｏ．Ｗ．）の一種である。<line>
//<line>
//様々な種類の生物の遺伝子が配合、改良されて組み込まれているが、<line>
//特に甲殻類の遺伝子が色濃くその外見に反映されており、その結果、<line>
//強固な甲殻装甲を手に入れることに成功している。<line>
//その甲殻装甲は無類の防御力を有しており、性能評価試験報告による<line>
//とＲＰＧの直撃にも耐えたとされる。<end>

Một đặc điểm nữa của nó là cơ thể khổng lồ.<line>
Với chiều dài cơ thể hơn mấy mươi mét,có thể nó cơ thể<line>
nó đã là một thứ vũ khí.Nhất là cái càng hơn 3 mét,nó phát<line>
huy hiệu quả cực lớn trong cận chiến.<line>
Tốc độ đòn đánh của 2 càng tuy không nhanh,nhưng đòn<line>
đánh siêu trọng lực của nó đủ uy lực để đâm xuyên lớp<line>
vỏ giáp của chiến xa một cách dễ dàng.<line>
また、その巨体も特徴の一つとして上げられる。<line>
全長数十メートルに及ぶ体躯は、それ自体が一つの武器と言え、特に<line>
３メートルを越える巨大鋏脚は、白兵戦で絶大な効果を発揮する。<line>
両方の鋏脚から繰り出される一撃はスピードこそそれほど速くはないが、<line>
その超重量級の一撃は威力十分で、戦車程度の装甲であれば簡単に<line>
貫いてしまう。<end>

Và phần bụng của U-8 vốn được dùng để ôm trứng,cũng là<line>
nơi cộng sinh của B.O.W. kiểu bay.<line>
Loại B.O.W. kiểu bay này nằm trong bụng U-8 nên hay bị<line>
hiểu lầm là con non của U-8,nhưng kỳ thực là loại B.O.W. khác.<line>
U-8 phát huy được sức mạnh vô địch trong cận chiến 1 đối 1,<line>
nhưng nếu đối phó với nhiều kẻ địch thì cơ thể khổng lồ của<line>
nó có khi lại vướng víu.<line>
Cũng vì thân xác khổng lồ mà nó trở thành mục tiêu ưa<line>
thích khi bị xạ kích từ cự ly xa.<line>
B.O.W. kiểu bay là để bù đắp cho nhược điểm này,cũng giống<line>
như quan hệ giữa không mẫu hạm với chiến đấu cơ.<end>
//さらにＵ－８は、本来抱卵のために使用される腹部分に、飛行型Ｂ．Ｏ．Ｗ．<line>
//を共生させている。<line>
//この飛行型Ｂ．Ｏ．Ｗ．は、その収納部分からＵ－８の幼生と勘違いされるこ<line>
//とがあるが、全く別種のＢ．Ｏ．Ｗ．である。<line>
//１対１の近接戦闘では無敵の強さを発揮するＵ－８だが、多数の敵を相<line>
//手にした場合は、その巨体をもてあますこともある。<line>
//またその巨大さから、遠距離からの狙撃では格好の的となってしまう。<line>
//その弱点を補うための飛行型Ｂ．Ｏ．Ｗ．であり、それは空母と艦載戦闘機<line>
//の関係に似ている。<end>

Như vậy,tưởng chừng U-8 là món vũ khí hoàn hảo,nhưng<line>
lại có khuyết điểm.Đầu tiên là cơ thể khổng lồ,cũng là<line>
món vũ khí lợi hại nhất của nó.<line>
Thật trớ trêu,để hoạt động thì nó cần một nguồn năng<line>
lượng khổng lồ.<line>
Vì vậy mà U-8 chỉ hoạt động liên tục được trong một thời<line>
gian ngắn,không dùng cho tác chiến đòi hỏi thời gian dài.<line>
Theo tài liệu doanh nghiệp của Tricell thì nó tỏ ra hiệu<line>
quả nếu được vận dụng để bảo vệ cứ điểm hay trong tác<line>
chiến tập kích chớp nhoáng.<line>
(Tuy nhiên,trong trường hợp tác chiến tập kích chớp nhoáng<line>
thì cần bảo đảm phương tiện vận chuyển nó đến điểm tác<line>
chiến)<end>
//このように兵器として完璧に思えるＵ－８であるが、欠点も存在する。<line>
//まず最大の武器であるその巨体だが、それがあだとなり、行動には膨大<line>
//なエネルギーを必要としてしまう。<line>
//そのため、Ｕ－８の連続活動時間は短く、長時間遂行される作戦には向<line>
//かない。<line>
//トライセルの営業用資料によると、拠点防衛、もしくは短時間で完遂され<line>
//る強襲作戦での運用が効果的とされている。<line>
//（ただし、強襲作戦の場合は作戦目的地までの輸送手段を確保する必<line>
//要がある）<end>

Và cũng vì thúc đẩy cơ thể hóa to lớn nhanh chóng mà một<line>
phần vỏ giáp xác của nó,vốn là yếu điểm phòng ngự,bị tổn hại.<line>
Tuy phần khuyết không phải bộ vị lớn,nhưng tấn công vào phần<line>
này là đòn chí mạng đối với U-8.<line>
また、あまりに急激な巨大化を促したため、その防御の要である甲殻装甲<line>
が一部欠損している。<line>
決して広い部位ではないが、この部分への攻撃はＵ－８にとって致命的で<line>
ある。<end>

Tuy có nhiều khyết điểm nhưng vì tính đa dụng và khả năng<line>
chiến đấu cao,lại dễ điều khiển nên được nhiều đánh giá<line>
tốt,khiến U-8 trở thành loại thương phẩm được ưa chuộng<line>
trong thị trường vũ khí sinh học.<line>
Theo ghi chép thì còn có kiểu cải tiến của U-8 sản xuất<line>
thời kỳ đầu (vỏ giáp xác nhiều lớp để tăng lực phòng ngự.<line>
Bộ vị lộ ra ngoài vốn là khuyết điểm của kiểu cũ cũng<line>
có thêm giáp che chắn) là U-8<$CE><$02><$3B><$00>,gồm mười mấy<line>
con đã được Ricardo Irving bán ra.<end>
//しかし、いくつかの欠点は存在するものの、その汎用性と戦闘力の高さ、<line>
//またコントロールのしやすさには定評があり、Ｕ－８は生物兵器市場で人気<line>
//の高い商品である。<line>
//記録によると、初期生産型のＵ－８と改良型（甲殻装甲の多層化による<line>
//防御力強化型。欠点であった露出していた部位にも甲殻が生成されて<line>
//いる）の「Ｕ－８<$CE><$02><$3B><$00>」、あわせて十数体がリカルド．　アーヴィングの//手により売却<line>
//されたとある。<end>

Ngoài ra còn có đề án tái cải tiến U-8 với việc hy sinh lực<line>
phòng ngự để giảm trọng lượng,tăng thời gian hoạt động và<line>
nâng cao tốc độ.Nhưng có vẻ đề án này đã bị dừng ở giai<line>
đoạn kế hoạch.<line>
Vì U-8 mà Chris Redfield và Sheva Alomar đụng độ trong<line>
lần tác chiến này có phần vỏ giáp xác khuyết tổn nên nó<line>
được suy đoán là U-8 kiểu sản xuất thời kỳ đầu.<line>
Và chữ "U" trong "U-8" được cho là viết tắt của "Ultimate"<line>
chứ không phải "Uroboros".<end>
//ちなみに、防御力を犠牲にして軽量化し、活動時間の増大と高速化を<line>
//見込んだ再改良型のＵ－８開発も立案されていたようだが、計画段階で<line>
//開発中止になったようだ。<line>
//本作戦でクリス．　レッドフィールドとシェバ．　アローマが遭遇したのは、甲殻<line>
//装甲の欠損が認められることから、初期生産型のＵ－８と推測される。<line>
//<line>
//なおＵ－８の「Ｕ」は「ウロボロス（Ｕｒｏｂｏｒｏｓ）」の「Ｕ」ではなく、「アルティメイ<line>
//ト（Ｕｌｔｉｍａｔｅ）」の「Ｕ」とされている。<end>

_０７<end>

_０８<end>

_０９<end>

Tricell là liên hợp xí nghiệp phức hợp gồm 3 bộ phận chính<line>
là "hải vận" (vận chuyển đường biển),"khai thác tài nguyên"<line>
và "chế dược" (bào chế thuốc).<line><line>
Lịch sử của Tricell bắt đầu từ thời đại hàng hải.<line>
Tiền thân của Tricell là "Travis thương hội" do Thomas<line>
Travis,một hào thương Châu âu điều hành.<line>
Travis thương hội kiếm được lợi nhuận khổng lồ từ việc<line>
mậu dịch với Á châu và xây dựng nên nền tảng cho bộ phận<line>
hải vận của Tricell ngày nay.<line>
Travis thương hội phát triển thuận lợi thành công ty mậu<line>
dịch hải vận vào đầu thế kỷ 19.<end>
//トライセルとは、「海運」「資源開発」「製薬」の３部門を主軸とする複合<line>
//企業体である。<line>
//<line>
//トライセルの歴史は、大航海時代と呼ばれている時代までさかのぼる。<line>
//欧州の豪商であったトーマス．　トラヴィス、彼が経営する「トラヴィス商会」<line>
//がトライセルの前身である。<line>
//トラヴィス商会はアジア方面との貿易で莫大な利益を上げ、今日のトライ<line>
//セル海運部門の基礎を築いた。トラヴィス商会は海運貿易会社として順<line>
//調に発展し、１９世紀を迎える。<end>

Thế kỷ 19,người con út trong gia đình 7 anh em nhà Travis<line>
là Henry Travis đã bỏ tiền túi ra để xuất phát sang Phi<line>
châu thám hiểm.<line>
Đương thời,ký sự liên quan đến thám hiểm Phi châu của<line>
những người như David Livingstone phủ kín mặt báo.<line>
Cuộc thám hiểm Phi châu của Henry có xuất phát điểm như<line>
vậy,và sau này nó cũng quyết định vận mệnh của<line>Travis thương hội.<line>
１９世紀、トラヴィス家の７人兄弟の末子であった「ヘンリー．　トラヴィス」は、<line>
私財をなげうってアフリカ探検へと出発した。当時は、デヴィッド．　リヴィングストン<line>
等のアフリカ探検に関する記事が新聞紙面を賑わしていた時代である。<line>
それに触発された形のアフリカ探検であったが、それがその後のトラヴィス<line>
商会の運命を決めることになる。<end>

Henry thám hiểm toàn bộ đại lục Phi trong 5 lần.Cuộc thám<line>
hiểm của Henry được nguồn tiền dồi dào của nhà Travis<line>
chu cấp nên nhiều lần gián đoạn mà không cần phải trở về<line>
bổn quốc mà cứ dựng nhà ở các thành phố ven bờ Phi châu<line>
để chuẩn bị cho đợt thám hiểm tiếp theo.<line>
Vì vậy mà ông ta chỉ trở về nước sau khi kết thúc đợt thám<line>
hiểm thứ 5.Người ta nói rằng ông trở về bổn quốc sau 34<line>
năm trời từ khi xuất phát.<end>
//ヘンリーのアフリカ探検は大陸全域を対象とし、五度にわたり実施され<line>
//た。彼の探検はトラヴィス家の豊富な資金力に支えられていたため、幾<line>
//度かの中断の際も本国に帰ることはなく、アフリカ沿岸の街に居を構え<line>
//て次の探検の準備をするスタイルをとっていた。<line>
//そのため、彼が帰国したのは五度目の探検が終了した後、実に本国を<line>
//出発してから３４年もの歳月が経過していたと言われている。<end>

Và những ghi chép của ông trong đợt thám hiểm được biên<line>
soạn thành "Bác vật tổng lãm" gồm 72 cuốn như một cuốn<line>
đại lịch sử thám hiểm.<line>
Cuốn  sách này không chỉ có nội dung mang tính bác vật<line>
như động thực vật Phi châu,côn trùng,khoáng vật,địa chất<line>
mà còn bao gồm cả nhiều yếu tố phong tục học,đề cập đến<line>
cả sinh hoạt,văn hóa,tập quán và lịch sử của người Phi châu.<line>
Tuy bộ Bác vật tổng lãm này đã được xuất bản đầy đủ,nhưng<line>
vì nội dung quá chi li của nó mà thế gian đón nhận nó như<line>
một tác phẩm sáng tác của Henry và dừng lại ở mức xuất<line>
bản với số lượng ít,được một bộ phận người ưa đọc sách<line>
xem như một loại sách quý hiếm.<end>
//そして彼の探検の記録は「博物総覧」と言う全７２巻に及ぶ大探検史と<line>
//して編纂されたのである。<line>
//この本は、アフリカの動物、植物、昆虫、鉱物、地質などの博物学的な内<line>
//容だけではなく、アフリカに住む人々の生活、文化、習慣、歴史などにも<line>
//言及した民俗学的な要素も併せ持っており、さながら当時のアフリカ百<line>
//科事典とも言える内容であった。<line>
//だが、この博物総覧は全巻が出版されたものの、その緻密すぎる内容<line>
//から世間からはヘンリーの創作として受け止められたため、<line>
//一部の好事家が愛読するだけの珍奇本の類として小部数が出版され<line>
//るにとどまった。<end>

Tuyệt vọng trước điều này,Henry qua đời vào mùa hè 2 năm<line>
sau kể từ khi về nước trong cơn đau buồn.<line>
Hiện tại,người ta cho rằng chuyện này là do gia chủ của<line>
Travis thương hội (trưởng huynh của Henry) cố ý lưu truyền<line>
tin đồng cuốn sách của người em trai út chỉ là sản phẩm<line>
tưởng tượng.Tại sao lại làm vậy?<line>
Vì Travis thương hội lo sợ bị kẻ khác lợi dụng những<line>
thông tin này.<line>
この事態に絶望したヘンリーは、帰国後２年目の夏、失意の内に他界<line>
する。現在では、これは当時のトラヴィス商会の当主（ヘンリーの長兄に当たる）<line>
が、末弟の本をフィクションだという噂を故意に流したためと言われている。<line>
なぜそのようなことをしたのか<？><line>
それは、トラヴィス商会が、この情報を他者に利用されることを恐れたため<line>
である。<end>

Ông ta đặc biệt xem trọng mặt địa chất học,những yếu tố<line>
này được tập hợp trong 8 cuốn từ cuốn 17 đến 24.<line><line>
Dựa trên những thông tin này mà cuối thế kỷ 19,Travis<line>
thương hộ bắt đầu khai thác tài nguyên khoáng vật ở<line>
Phi châu.Nhờ vậy mà Travis thương hội phát hiện ra nhiều<line>
núi khoáng kim loại hiếm,mỏ dầu,mỏ khí thiên nhiên ở các<line>
nơi trong khắp Phi châu.Họ khai thác và thu được lợi nhuận<line>
khổng lồ.Đây chính là khởi nguồn của bộ phận khai thác<line>
tài nguyên của Tricell.<end>
//彼らが特に重要視したのは、地質学的な要素をまとめた第１７巻から<line>
//第２４巻の８冊である。この情報を基に、トラヴィス商会は１９世紀末、<line>
//アフリカの鉱物資源開発に乗り出す。<line>
//これによりトラヴィス商会は、アフリカ各地にいくつものレアメタル採掘鉱山、<line>
//油田、天然ガス田等を発見、開発し、莫大な利益を上げていった。<line>
//これがトライセルの資源開発部門の起源である。<end>

Khi đã xây dựng bàn đạp vững chắc ở Phi châu,Travis thương<line>
hội bắt đầu thu nhặt các loài động thực vật,côn trùng Phi<line>
châu một cách tích cực và giữa thế kỷ 20.<line>
Không cần phải nói,họ đã tích cực vận dụng cuốn Bác vật<line>
tổng lãm khi thu nhặt.Dựa trên vật liệu thu nhặt được,họ<line>
tiến hành khai phá dược phẩm và biến thành việc làm ăn.<line>
Bộ phận chế dược hôm nay được thiết lập như vậy.<line>
また、アフリカに確固たる足場を築いたトラヴィス商会は、２０世紀中ごろ<line>
より動植物、昆虫などを積極的に採取し始める。<line>
この採取の際も、博物総覧が積極的に活用されたことは言うまでもない。<line>
採取された素材を基に薬品開発を行い、それを事業化。今日の製薬<line>
部門の設立となった。<end>

Bộ phận hải vận đã xây dựng nên nền móng của Travis<line>
thương hội.Bộ phận khai thác tài nguyên được phát triển<line>
dựa trên nền tảng bộ Bác vật tổng lãm do Henry biên soạn.<line>
Và bộ phận chế dược dựa trên nền tảng động thực vật Phi<line>
châu thu nhặt được.<line>
3 bộ phận chủ chốt này tập hợp lại vào những năm 1960,<line>
Travis thương hội đổi tên xí nghiệp thành "Tricell" để thể<line>
hiện ý đây là liên hợp xí nghiệp từ 3 bộ phận.<line>
Tricell ngày nay đã ra đời như vậy.<end>
//トラヴィス商会の基礎を築いた「海運部門」。<line>
//ヘンリーが記した博物総覧に基づき開発が進められた「資源開発部門」。<line>
//そして、アフリカの動植物から採取された素材を基に独自の開発を行う<line>
//「製薬部門」。<line>
//主要３部門が揃った１９６０年代、トラヴィス商会は企業名を３部門の複合<line>
//企業体であることを示す「トライセル」に改称し、今日のトライセルが誕生した。<end>

Và người để mắt tới bộ Bác vật tổng lãm của Henry không chỉ<line>
có mỗi nhà Travis.Cha đẻ của Umbrella là Ozwell E.Spencer<line>
cũng quan tâm đến khía cạnh phong tục học của cuốn sách này.<line>
Từ những ghi chép liên quan đến nghi thức của tộc Ndipaya<line>
mà ông ta suy đoán ra sự tồn tại của loại hoa thủy tổ,và<line>
nó được cho là liên quan đến việc phát hiện virus thủy tổ.<line>
なお、ヘンリーが記した博物総覧に目をつけたのは、トラヴィス家だけでは<line>
なかった。<line>
アンブレラの創始者であるオズウェル．　Ｅ．　スペンサーもまた、この本の民俗<line>
学的側面に着目。<line>
ンディパヤ族の儀式に関する記述から、始祖花の存在を予測し、それが<line>
始祖ウィルスの発見に繋がったとされている。<end>

_０９<end>

_１０<end>

_１１<end>

Thân hình gợi cảm,khuôn mặt đoan chính.<line>
Khi mặc thường phục đi giữa phố thì không ai ngờ rằng cô<line>
vốn là đội viên tinh anh của S.T.A.R.S.<line>
Nhưng khi hữu sự thì cô lại trở thành một binh sĩ ưu tú<line>
hơn bất cứ ai hết.Ngoài tài bắn súng,cô còn có sự khéo léo<line>
để mở tung các loại khóa đơn giản hơn Keypick.Cô còn có<line>
nhiều tài lẻ khác và kỷ năng xử lý chất nổ.<line>
Đó chính là Jill Valentine.<line>
華奢な体つきに端正な顔立ち。街を私服で歩いていれば、彼女が<line>
精鋭Ｓ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．の元隊員であるとは誰も思わないだろう。<line>
だが、一旦有事となれば彼女は誰よりも優秀な兵士となる。<line>
銃器の扱いはもちろんのこと、キーピックにより簡単な鍵であれば開錠して<line>
しまう器用さ、さらには爆発物処理のスキルと多彩な才能を備えている。<line>
それがジル．　バレンタインである。<end>

Cùng với Chris,Jill trực thuộc đội Alpha của S.T.A.R.S.<line>
Cô cùng anh bị cuốn vào thảm kịch ở sở nghiên cứu Arklay<line>
đáng ghét nọ,mà thiên hạ vẫn gọi là "sự kiện dinh thự".<line>
Trong dinh,cô hoạt động riêng lẻ nhưng cuối cùng đã đến<line>
được chân tướng của sự kiện cùng với Chris.<line>
Người đồng đội Barry Burton phản bội,và kẻ giật dây đằng<line>
sau chính là Albert Wesker,đội trưởng S.T.A.R.S.<line>
Cô biết được sự tồn tại của t-virus biến con người thành<line>
Zombie và âm mưu của Umbrella,xí nghiệp chế dược<line>
khổng lồ.<end>
//ジルは、クリスと共にＳ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．アルファチームに所属。<line>
//一緒に忌まわしいアークレイ研究所での惨事、通称「洋館事件」に巻き<line>
//込まれる。<line>
//洋館内ではクリスと別行動を取ったジルだったが、最後にはクリスと共に<line>
//事件の真相へとたどり着くこととなった。<line>
//仲間であったバリー．　バートンの裏切り、そしてそれを裏で糸を引いていた<line>
//Ｓ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．の隊長アルバート．　ウェスカー。<line>
//人間をゾンビのようにしてしまうｔ－ウィルスの存在、そして巨大製薬企業<line>
//アンブレラの陰謀。<end>

Những sự thật này đã quyết định vận mệnh của Jill sau này.<line>
Trở về từ dinh thự,cô cùng Chris tố cáo tính nguy hiểm của<line>
Umbrella,nhưng việc điều tra không tiến triển.<line>
Vì nóng lòng,hai người đã tự điều tra độc lập.<line>
Đối tượng điều tra là căn cứ địa của Umbrella ở Châu âu.<line>
Nhưng Umbrella vẫn còn một sở nghiên cứu quan trọng ở<line>
Raccoon city,nơi cô phải bảo vệ với vai trò của một đội<line>
viên S.T.A.R.S.<line>
Để điều tra,cô sang Châu âu theo sau Chris.<end>
//それらの真実が、その後のジルの運命を決定した。<line>
//洋館からの生還後、彼女はクリスと共にアンブレラの危険性を訴えるが、<line>
//一向に調査は進まなかった。それに業を煮やした二人は、独自の調査を<line>
//することにした。調査対象は欧州にあるアンブレラの本拠地。<line>
//だが、彼女がＳ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．の隊員として守るべきラクーンシティにもアンブレラ<line>
//の重要研究施設が残っていた。<line>
//それを調査するため、彼女はクリスに遅れて欧州へ向かうことにしたのだった。<end>

Việc đó đã dẫn dắt Jill sang một sự kiện mới.<line>
Giữa chừng cuộc điều tra,t-virus rò rỉ ra ngoài từ sở nghiên<line>
cứu Arklay thông qua loài chuột và lây lan khắp thành phố.<line>
Raccoon city bị ô nhiễm bởi t-virus,và lũ Zombie lởn vởn<line>
khắp nơi,đúng nghĩa của từ "thành phố chết".<line>
Và bên đã phản ứng nhanh với sự tình này chính là<line>
Umbrella,kẻ gây ra sự kiện này.<line>
そして、それがジルをもう一つの事件へと誘う。調査の最中、アークレイ<line>
研究所からｔ－ウィルスが漏れ出し、それがネズミを媒介にして市全域に<line>
蔓延してしまったのだ。ｔ－ウィルスに汚染されたラクーンシティは、ゾンビが<line>
徘徊する文字通りの死の街となった。<line>
そして、この事態にいち早く反応したのは、事件の元凶であるアンブレラ<line>
であった。<end>

Họ đã phái lực lượng đối sách chống thảm họa sinh họa<line>
sinh học "U.B.C.S." đến hiện trường,và để bịt miệng các<line>
đội viên S.T.A.R.S. còn sống sót thì họ còn quẳng vào đó<line>
một món vũ khí sinh học gọi là Nemesis kiểu T.<line>
Bị Nemesis kiểu T đuổi theo,Jill vẫn tính đường thoát khỏi<line>
thành phố.Và tại đó cô gặp một người đàn ông.<line>
Đó là Carlos Oliveira,thành viên sống sót của U.B.C.S.<line>
バイオハザード対策部隊「Ｕ．Ｂ．Ｃ．Ｓ．」を現場に送り込み、さらには生き<line>
残ったＳ．Ｔ．Ａ．Ｒ．Ｓ．隊員の口をふさぐためネメシス－Ｔ型と呼ばれる生物<line>
兵器を投入してきたのだ。ネメシス－Ｔ型に追われながらも街からの脱出を図る<line>
ジルは、そこで一人の男と出会う。<line>
Ｕ．Ｂ．Ｃ．Ｓ．の生き残り、カルロス．　オリヴェイラである。<end>

Carlos cho rằng mục đích của mình là giải cứu thị dân và<line>
không mảy may nghi ngờ,đề nghị cùng hợp tác để thoát<line>
khỏi thành phố,nhưng Jill không tin tưởng hoàn toàn.<line>
Nhưng rồi tình hình càng khẩn cấp hơn.<line>
Chính phủ Mễ quốc xem việc ô nhiễm virus của Raccoon<line>
city là một vấn đề,và quyết định tiến hành đánh bom đặc<line>
biệt vào thành phố dưới danh nghĩa "diệt khuẩn tác chiến".<line>
Ngoài ra,Jill còn bị nhiễm t-virus,và tưởng chừng đã tuyệt<line>
vọng với việc thoát khỏi thành phố.Nhưng lúc đó,người<line>
cứu cô ra khỏi bước đường cùng lại là Carlos.<end>

//自分たちの部隊が市民の救出を目的としていると信じて疑わないカルロ<line>
//スは、協力して街から脱出することを提案してくるが、ジルはその言葉を<line>
//素直に受け止められずにいた。<line>
//だが、事態は切迫していた。<line>
//米政府はラクーンシティのウィルス汚染を問題視、「滅菌作戦」と称され<line>
//る特殊爆弾攻撃を決行しようとしていた。<line>
//さらにはジルがｔ－ウィルスに感染してしまい、脱出は絶望的かと思われた。<line>
//だが、その窮地を救ってくれたのがカルロスだった。<end>

Có được Vakzin trong tay,Carlos đã tiêm cho Jill vốn đang<line>
bị nhiễm t-virus.Sau khi hồi phục an toàn,Jill hợp tác với<line>
Carlos và thoát khỏi Raccoon city thành công.<line>
Năm 2003,thông qua "tác chiến ngăn chặn T-A.L.O.S." tổ chức<line>
ở Lộ Tây Á,Jill cùng Chris khiêu chiến với bọn tội phạm vũ<line>
khí sinh học trong vai trò đội viên đầu tiên của BSAA<line>
(Original Eleven).<line>
ワクチンを入手したカルロスは、ｔ－ウィルスに感染したジルにそれを投与。<line>
無事に回復したジルはカルロスと協力し、ラクーンシティ脱出に成功する<line>
のだった。そして、２００３年。<line>
ロシアで行われた「Ｔ－Ａ．Ｌ．Ｏ．Ｓ．阻止作戦」を経て、ジルはクリスと共に<line>
ＢＳＡＡの初期メンバー（オリジナル．　イレブン）として世界中の生物兵器<line>
犯罪に挑むこととなった。<end>

Hai người đã tham gia nhiều tác chiến như ngăn chặn khủng<line>
bố vũ khí sinh học ở Á châu,phá hoại sở nghiên cứu vũ khí<line>
sinh học ở Nam Mễ,bắt bớ buôn lậu ở Châu âu.Nhưng họ không<line>
ngờ rằng cái bóng của Umbrella lại sẽ đổ xuống lần nữa.<line>
Cái bóng một màu đen thẫm,hắc ám.<line>
Đó là sự tồn tại của Ozwell E.Spencer,cha đẻ của Umbrella.<line>
アジアでの生物兵器テロ阻止、南米の生物兵器研究所の壊滅作戦、<line>
欧州での密売人の逮捕作戦、様々な作戦に従事した二人であったが、<line>
再びその前にアンブレラの影が横たわることになるとは思ってもみなかった<line>
だろう。その影は、深く濃い黒だった。<line>
アンブレラの創始者オズウェル．　Ｅ．　スペンサーの存在である。<end>

Thâm nhập vào nơi cư ẩn náu của Spencer,hai người nhanh<line>
chóng xông vào căn phòng của Spencer để tiến hành bắt giữ,<line>
nhưng nơi đó lại có kẻ cừu địch Albert Wesker,cũng là cấp<line>
trên của họ trước kia.<line>
Xác nhận cái xác của Spencer lăn lóc dưới chân Wesker,hai<line>
người mau chóng chuyển sang tác chiến bắt giữ Wesker.<line>
2 đối 1.Tình thế thuận lợi tuyệt đối.<line>
Nhưng Wesker đã trở thành kẻ có năng lực vượt khỏi phạm<line>
vi của một con người.Hai người hoàn toàn không đương<line>
đầu nỗi trước Wesker.<end>
//スペンサーの居場所を突き止めた二人は逮捕に急行、スペンサーの<line>
//部屋に踏み込むが、そこにいたのはかつての上司、そして仇敵である<line>
//アルバート．　ウェスカーであった。<line>
//ウェスカーの足元に転がるスペンサーの骸を確認した二人は、急遽<line>
//ウェスカー逮捕に作戦を変更した。<line>
//２対１、絶対的に有利な状況である。<line>
//だが、ウェスカーはすでに人間を超えた存在になっていた。<line>
//二人は、全くウェスカーに歯が立たなかった。<end>

Và khi nắm đấm của Wesker toan xuyên qua người Chris thì<line>
Jill đã chạy đến theo phản xạ.<line>
Theo đà,Jill ôm Wesker cùng đâm qua cửa sổ,dẫn theo hắn<line>
xuống hố địa ngục A Tỳ không đáy.<line>
Nơi ấy chỉ còn lại mình Chris và tiếng kêu thét của anh.<line>
そして、ウェスカーの拳がクリスの胴体を貫こうとした瞬間、ジルは反射<line>
的に走った。勢いのままウェスカーに組み付いたジルは窓を突き破り、<line>
そのままウェスカーを道連れに奈落の底へと消えていった。<line>
その場に残ったのは、クリスと、彼の叫び声だけであった。<end>

Sau đó,BSAA đã tổ chức tìm kiếm với quy mô lớn,nhưng ngay<line>
cả vật tùy thân cũng không tìm thấy chứ đừng nói thi thể.<line><line>
Vào ngày 23 tháng 11 năm 2006,Jill được chính thức thừa<line>
nhận là đã tử vong,nối dài danh sách những cái tên đã tuẫn<line>
trên đường làm nhiệm vụ của BSAA.<line>
その後、ＢＳＡＡの手による大規模な捜索が行われたが、死体どころか<line>
遺留品ひとつも発見されなかった。<line>
そして２００６年１１月２３日、ジル．　バレンタインは公式に死亡と認定され、<line>
ＢＳＡＡの殉職者リストに名を連ねることとなった。<end>

Nhưng câu chuyện của cô vẫn chưa kết thúc.<line>
Dưới bờ vực,không ngờ cô lại được Wesker cứu thoát.<line>
Wesker cứu Jill và để cô tiếp tục sống trong trạng thái<line>
ngủ đông lạnh.<line>
Hắn muốn lợi dụng cô làm vật thí nghiệm đầu tiên khi<line>
hoàn thành "kế hoạch Uroboros".<line>
Đó là sự báo thù nhẹ nhàng của Wesker.<line>
だが、彼女のストーリーはまだ終わっていなかった。崖下に消えた彼女<line>
は、あろうことかウェスカーに救出されていたのだった。ジルを救出した<line>
ウェスカーは、そのまま彼女を冷凍睡眠状態で生かし続けた。<line>
「ウロボロス計画」が完成した際には、被験体第一号として彼女を利用<line>
しようとしていたのである。これは、ウェスカーのささやかな復讐であった。<end>

Nhưng tình thế đã đứng về phía Jill.<line>
Cảm biến giám sát phản ứng sinh mệnh của Jill đã phát hiện<line>
được giá trị dị thường.Có thứ gì đó toan trỗi dậy trong cơ<line>
thể Wesker,nó đã thu hút sự chú ý của Wesker.<line>
Kết quả kiểm tra cho thấy t-virus biến dị tồn tại trong cơ<line>
thể cô.Đó là tàn tích của t-virus mà cô bị nhiễm ở Raccoon<line>
city trước đây.<line>
しかし、事態はジルに味方をした。ジルの生命反応を監視していた<line>
センサーが、異常な数値を検知したのだ。彼女の体内で何かが起ころう<line>
としており、それが再びウェスカーの興味を引くこととなった。<line>
検査の結果、彼女の体内に変異したｔ－ウィルスが存在することが確認<line>
された。<line>
それは、かつてラクーンシティで感染したｔ－ウィルスの残滓であった。<end>

t-virus không bị Vakzin loại trừ hoàn toàn,mà vẫn tiếp tục<line>
tiềm tàng sâu bên trong cơ thể cô.Nhờ trạng thái ngủ đông<line>
lạnh trong thời gian dài mà nó trở nên hoạt hóa,lộ diện ra<line>
bên ngoài.Chẳng bao lâu thì t-virus bị tiêu diệt.<line>
Nhưng còn lại một thứ khác.<line><line>
Một loại kháng thể virus mạnh mẽ được phát hiện trong<line>
cơ thể Jill.Có thể nói đây là một kỳ tích do năng lực phòng<line>
vệ của bản thân cô sinh ra sau quá trình t-virus tiềm tàng<line>
trong cơ thể kéo dài.<line>
Và sự thật này đã khiến Wesker vui mừng.<end>
//ｔ－ウィルスはワクチンで完全に駆逐されたわけではなく、彼女の奥深くに<line>
//潜み生き続けていたのだ。それが長時間の冷凍睡眠状態で活性化、<line>
//表に顔を出してきたのである。そのｔ－ウィルスは、程なくして消滅してしまった。<line>
//だが、残った物もあった。体内から、強力なウィルス抗体が発見されたのだ。<line>
//長年体内にｔ－ウィルスを潜伏させ続けた末に、彼女の自己防衛能力<line>
//が生み出した一つの奇跡といえるだろう。そして、この事実はウェスカーを歓喜させた。<end>

Việc khai thác Uroboros virus,trung tâm của kế hoạch Uroboros,<line>
khó khăn hơn dự định.Uroboros thời kỳ đầu sản xuất từ hoa<line>
thủy tổ cớ độc tính cực mạnh,không thể sử dụng ngay được.<line>
Đừng nói là thúc đẩy nhân loại tiến hóa,mà nó còn dẫn đến<line>
cái chết ngay lập tức.Để làm giảm độc tính đó,Wesker nghĩ<line>
đến việc lợi dụng kháng thể của Jill.<line><line>
Hắn để Jill tiếp tục sống như một nhà máy sản xuất kháng<line>
thể.Căm ghét khủng bố vũ khí sinh học hơn ai hết,từng ngăn<line>
chặn biết bao âm mưu nhưng giờ đây cô lại bị lợi dụng vào<line>
âm mưu tồi tệ nhất.Chẳng còn gì trớ trêu hơn.<end>
//ウロボロス計画の中心であるウロボロス．　ウィルスであるが、開発は予想<line>
//以上に難航していた。始祖花から生成された初期のウロボロス．　ウィルスは、<line>
//毒性が強すぎて、そのままでは使用できなかった。<line>
//人類の進化を促すどころか、死へと誘ってしまうのだ。<line>
//ウェスカーはその毒性を弱めるため、ジルが持つ抗体の利用を思いつい<line>
//たのである。ジルは抗体の生体工場として生かし続けられた。<line>
//生物兵器テロを人一倍憎み、数々の陰謀を阻止してきた彼女が、最悪<line>
//の陰謀のために利用されようとしている。これほどの皮肉はないだろう。<end>


Và rồi Uroboros virus cũng hoàn thành.<line>
Đã xong việc với Jill,nhưng cô không thích hợp để làm<line>
vật thử nghiệm Uroboros virus.<line>
Bên trong cơ thể cô tràn đầy loại kháng thể virus với độ<line>
thuần khiết cao.Và rồi Wesker lợi dụng cô theo cách khác.<line>
そして、ウロボロス．　ウィルスが完成した。<line>
用済みになったジルであったが、ウロボロス．　ウィルスの被験体には<line>
ふさわしくない。<line>
彼女の体内には、純度の高いウィルス抗体が充満しているのだ。<line>
そこでウェスカーは、違うやり方で彼女を利用することにした。<end>

Có loại dược phẩm được khai sinh ra như một thứ phụ phẩm<line>
trong quá trình nghiên cứu virus thủy tổ.Dược phẩm đó không<line>
có tên chính thức mà chỉ được các nghiên cứu viên gọi đơn<line>
giản là "P30".<line>
Khi bị tiêm thuốc này thì vật thí nghiệm sẽ bị kiểm soát<line>
tinh thần,đồng thời có được năng lực siêu nhân.<line>
Tức,đây là một loại Doping.<line>
Mục đích của kế hoạch Uroboros là sự tiến hóa đến một<line>
nhân loại mới.Xét về ý nghĩa này thì loại dược phẩm này<line>
không có giá trị cao.<line>
Nhưng biết đâu cũng có thể sử dụng nó như một loại<line>
thương phẩm.<end>
//始祖ウィルス研究の副産物として生み出された薬品があった。<line>
//その薬品に正式な名前はなく、研究員の間ではただ単に「Ｐ３０」と呼ば<line>
//れていた。<line>
//これを投与されると、被験体は精神を支配されるのと同時に、超人的な<line>
//パワーを身に付けることができる。<line>
//つまりは一種のドーピングである。<line>
//ウロボロス計画の目的は、新たな人類への進化である。<line>
//その意味では、この薬品の存在価値は低い。<line>
//だが、商品としては使えるかもしれない。<end>

Như vậy,"P30" được tiếp tục nghiên cứu song hành với<line>
"kế hoạch Plaga" nhằm tạo ra những binh sĩ mạnh nhất tuyệt<line>
đối không phản kháng mệnh lệnh.Nhưng nó có khuyết điểm lớn.<line>
Thời gian hiệu lực của nó cực kỳ ngắn.<line><line>
Điểm mạnh của nó là tiêm vào cơ thể là bị đào thải ra ngoài<line>
nên không để lại di chứng,nhưng vì thời gian hiệu lực quá<line>
ngắn nên không thể bán được như một thương phẩm.<line>
Rồi một loại thiết bị bên ngoài cơ thể liên tục tiêm thuốc<line>
vào đã được nghĩ ra.<end>
//こうして、同じく決して反抗することのない最強の兵士を生み出すための<line>
//「プラーガ計画」と平行して研究が続けられた「Ｐ３０」であったが、大きな<line>
//欠点があった。効果時間が極端に短いのである。<line>
//代謝されて体外に排出されればほとんど後遺症が残らないのは長所だ<line>
//が、効果時間が短すぎるのでは商品として売り物にならない。<line>
//そこで考案されたのが、体外装置による薬剤の継続投与であった。<end>

Tuy thời gian hiệu lực ngắn nhưng chắc chắn nó là loại<line>
thuốc cực mạnh.Nếu tiêm liên tục thì sẽ tổn hại đến cơ thể<line>
như thế nào,không biết được.<line>
Nên hắn biến Jill thành vật thử nghiệm để biết.<line><line>
Thiết bị gắn ngoài trên ngực Jill là để liên tục tiêm thuốc<line>
vào cơ thể cô.Nó liên tục gậm nhấm tinh thần,khiến cô sống<line>
như một món "đồ chơi" trong tay Wesker và Excella cho tới<line>
khi được người đồng đội cũ là Chris giải phóng.<end>
//だが、効果時間が短いとは言え強力な薬品に違いはない。<line>
//継続投与は、どれほど体にダメージを与えるか分からない。<line>
//それを知るため、ジルを被験体とすることにしたのだ。<line>
//胸に付けられた体外装置は、継続的にジルに薬剤を投与し続けた。<line>
//そして、その精神を蝕み続け、かつてのパートナー、クリスがその呪縛を<line>
//解き放つ時まで、ウェスカーとエクセラの“玩具”として彼女を生かし続け<line>
//たのである。<end>

_１９<end>

_２０<end>

_２１<end>

_２２<end>

_２３<end>

_２４<end>

_２５<end>

Nhà Gionne nơi Excella lớn lên là một thương gia mậu dịch<line>
có tiếng ở Châu âu.Và cũng vì bà nội xuất thân từ nhà Travis,<line>
một dòng họ gây dựng nên Tricell nên có thể nói Excella<line>
có dòng máu xuất thân đàng hoàng.<line>
Lớn lên trong danh gia nên lòng kiêu hãnh cao,lại thêm dung<line>
nhan đẹp đẽ nên thường có khuynh hướng xem thường những<line>
người chung quanh (nhất là nam giới).<line>
Nhưng nếu chỉ có bề ngoài của một tiểu thư con nhà phú hào<line>
không thôi thì Excella đã không lên được địa vị như hôm nay.<line>
Bản chất của Excella nằm ở cái đầu thông minh sáng sủa.<end>

//エクセラが育ったギオネ家は、ヨーロッパでも名の通った貿易商の一家<line>
//である。<line>
//また、祖母はトライセルの創業者一族であるトラヴィス家の出身であるため、<line>
//由緒ある血筋の一族の出身と言える。<line>
//名家で生まれ育ったその出自ゆえにプライドが高く、さらにはその美貌<line>
//から周りの人間（特に男性）を見下す傾向が強い。<line>
//<line>
//だが、ただ見た目が良いだけの富豪令嬢であれば、彼女が今の地位<line>
//につくことはなかっただろう。<line>
//エクセラの本質は、その明晰な頭脳にある。<end>

Với tài năng kinh doanh thừa hưởng từ cha,Excella vượt cấp<line>
vào Đại học theo ngành công nghệ di truyền,tài năng cũng<line>
được phía Tricell do bà nội điều hành đánh giá cao.Năm mới<line>
18 tuổi,Excella đã trở thành một thành viên của bộ phận<line>
chế dược của Tricell.<line>
Nhưng dù có xuất thân từ dòng họ sáng lập và tài ba giỏi<line>
giang thế nào đi nữa,rốt cuộc cô ta cũng là con nhà Gionne,<line>
vốn là nhánh phụ.<line>
Trong công ty có mấy mươi nhóm nghiên cứu,cô ta chỉ được<line>
giao cho mỗi một nhóm mà thôi.<line>
Xét về tính cách của Excella thì việc đứng dưới quyền người<line>
khác không lấy gì làm hay ho,và chắc chắn cũng là một nỗi<line>
ô nhục đối với cô ta.<end>
//父親譲りの経営の才能に加え、飛び級で入学した大学では遺伝子工<line>
//学を専攻、その才能は祖母の実家が経営するトライセルからも高く評価<line>
//され、わずか１８歳の時にトライセル製薬部門の一員となることとなった。<line>
//<line>
//だが、いくら創業者一族出身で才能豊かとは言え、彼女自身は傍流の<line>
//ギオネ家の出身である。<line>
//社内で何十もある研究チームの１つを与えられたにすぎなかった。<line>
//人の風下に立つことを良しとしない彼女の性格を考えると、これは相当な<line>
//屈辱だったに違いない。<end>

Lúc đó,Albert Wesker là người tiếp cận cô ta.<line>
Wesker để mắt đến tài năng của Excella,tự mình cung cấp<line>
những thông tin về t-virus mình đang nắm trong tay.<line>
Những thứ này đã trở thành vũ khí lợi hại của Excella.<line>
Nhờ kỹ thuật và thông tin cô ta mang lại,Tricell đã có bước<line>
phát triển vượt bậc trong mảng khai phá vũ khí sinh học.<line>
そのような時に彼女に接近してきたのがアルバート．　ウェスカーである。<line>
ウェスカーは、彼女の才能とその気性に目を付け、自らが持つｔ－ウィルス<line>
などの情報をエクセラに提供した。これらは、エクセラの確かな武器となった。<line>
彼女がもたらした情報と技術により、トライセルの生物兵器開発は飛躍<line>
的な発展を遂げた。<end>

Hơn nữa,cùng với sự sụp đổ của Umbrella,vốn là công ty tự<line>
hào với thị phần lớn nhất thị trường vũ khí sinh học,Tricell<line>
đã bành trướng thị phần một cách thuận lợi.<line>
Và lời nói của Excella,người có công lớn nhất trong việc khai<line>
phá,trở nên có sức nặng.Không biết từ lúc nào mà lời nói<line>
của cô ta cũng làm ảnh hưởng tới cả phương châm của toàn<line>
thể bộ phận chế dược.Đây cũng là kết quả mà Wesker nhắm tới.<line>
さらに、生物兵器市場でのトップシェアを誇っていたアンブレラの崩壊とい<line>
う幸運も重なり、トライセルは順調にシェアを拡大していったのである。<line>
そして、それは開発における最大の功労者であるエクセラの発言力も同<line>
時に高めていき、いつしか、彼女の言動は製薬部門全体の方針さえも<line>
左右するようになっていた。<line>
これは、ウェスカーの狙い通りの結果でもあった。<end>

Tiếp theo,Excella yêu cầu vị trí giám đốc của chi nhánh<line>
Tricell ở Phi châu.Khéo léo sử dụng tài liệu nghành vũ khí<line>
sinh học cùng những lời ngon ngọt,dọa nạt nên cuối cùng<line>
Excella cũng nắm được vị trí này trong tay.<line>
Cũng không khó để tưởng tượng rằng màn kịch nhậm chức<line>
giám đốc chi nhánh Phi châu này là do Wesker giật dây.<line>
Wesker lợi dụng tình cảm luyến ái của Excella đối với mình,<line>
và cũng toan lợi dụng của chi nhánh Phi châu của Tricell<line>
cùng Excella vào "kế hoạch Uroboros" của hắn.<end>
//次にエクセラは、トライセル．　アフリカ支社の支社長のポストを要求。<line>
//生物兵器事業を材料に甘言、恫喝を巧みに使い分け、まんまとこの<line>
//ポストを手中にするのであった。<line>
//<line>
//このアフリカ支社長への就任劇がウェスカーの差し金であったことは、<line>
//想像に難くない。<line>
//ウェスカーは、エクセラが持つ自身への恋愛感情を利用し、「ウロボロス<line>
//計画」にエクセラとトライセル．　アフリカ支社を利用しようとしていたのだ。<end>

Sau khi lên chức giám đốc chi nhánh Phi châu,việc đầu tiên<line>
cô ta làm là phục hồ sở nghiên cứu Phi châu của Umbrella<line>
đã bị phế bỏ từ trước.Sở nghiên cứu này được Umbrella xây<line>
dựng để nghiên cứu virus thủy tổ,và là công trình tuyệt đối<line>
cần thiết để hoàn thành kế hoạch Uroboros.<line><line>
Sau khi phục hồi sở nghiên cứu,cô ta sử dụng con tốt là<line>
Irving để mua bán vũ khí sinh học,bảo đảm nguồn tiền cho<line>
nghiên cứu,đồng thời tiến hành nghiên cứu Uroboros virus.<end>
//彼女がアフリカ支社長に就任してまず行ったのは、すでに遺棄されていた<line>
//「アンブレラ．　アフリカ研究所」を復活させることであった。<line>
//この研究所は、アンブレラにより始祖ウィルス研究のために建設されたも<line>
//ので、ウロボロス計画完遂のためには絶対に必要な施設である。<line>
//研究所復活後は、手駒の一つであるアーヴィングを用いて生物兵器の<line>
//売買を行い、研究資金の確保をしつつウロボロス．　ウィルスの研究を行っ<line>
//ていった。<end>

Và kế hoạch Uroboros đi vào giai đoạn cuối cùng.<line>
Cô ta mơ mộng về địa vị nữ vương trong cái thế giới mới<line>
sau khi hoàn thành kế hoạch,nhưng lại bị vị vua Wesker tự<line>
tay tiêm Uroboros virus vào cơ thể.<line>
Uroboros virus cự tuyệt di truyền tử (DNA) của Excella và<line>
bắt đầu lộng hành.Cơ thể bị virus đâm thủng,hóa thành con<line>
Uroboros khổng lồ và chấm dứt cuộc đời cô ta.<line>
そして、ウロボロス計画は最終段階を迎える。<line>
彼女自身は計画終了後に訪れる新世界での女王の地位を夢見ていた<line>
が、王となる男、ウェスカーの手によりウロボロス．　ウィルスを投与されてし<line>
まう。<line>
ウロボロス．　ウィルスはエクセラの遺伝子を拒絶すると暴走を開始。体を突<line>
き破ったウィルスにより巨大なウロボロスに変貌した彼女は、その生涯を<line>
終えた。<end>

_０７<end>

Sự kiện tòa dinh thự,thảm sự ở Raccoon city,sự kiện sở nghiên<line>
cứu Nam cực của Umbrella bắt nguồn từ đảo Rockfort,sự kiện<line>
ở sở nghiên cứu Caucasus thuộc Lộ Tây Á,và sự kiện bắt cóc<line>
con gái Tổng thống Huê Kỳ (Á Mễ Lợi Gia-America).<line>
Trong tất cả những sự kiện đó,dù là nổi trên mặt,hay chìm<line>
đằng sau giật dây,đều được xác nhận liên quan tới một người.<line>
Đó là Albert Wesker.<line>
<line>
Nói,sự kiện lần này khai mào từ hành động của hắn cũng<line>
chẳng có gì là quá lời.<end>
//洋館事件、ラクーンシティでの惨事、ロックフォート島に端を発するアンブレラ<line>
//南極研究所での事件、ロシアのコーカサス研究所における事件、そして<line>
//アメリカ大統領子女誘拐事件。<line>
//<line>
//全ての事件において、表舞台、裏舞台関わらずその存在が確認される男。<line>
//それがアルバート．　ウェスカーである。<line>
//今回の事件は、その彼の行動が発端となったと言っても過言ではない。<end>

Từ trước tới giờ,Wesker đã nắm trong tay nhiều loại virus<line>
và sinh vật như t-virus,G-virus,t-Veronoica,Plaga...<line>
Dùng những thứ này làm vũ khí giao dịch với công ty đối<line>
thủ của Umbrella đã mang lại cho hắn địa vị,sự  giàu có<line>
và cả danh dự.<line>
Về mặt vật chất thì hắn đã đầy đủ.<line>
Nhưng bên trong hắn luôn tồn tại một nỗi canh cánh.<line>
Đó chính là sự tồn tại của Ozwell E.Spencer,cha đẻ<line>
của Umbrella.<end>
//ウェスカーは、これまでｔ－ウィルス、Ｇ－ウィルス、ｔ－Ｖｅｒｏｎｉｃａ、プラーガと<line>
//数々のウィルス、生物を手中にしてきた。<line>
//それらを武器にアンブレラのライバル企業でのし上がり、地位も富も名誉も<line>
//手に入れた。<line>
//物質的には満たされた。<line>
//<line>
//だが、彼の中には常にある違和感が存在し続けた。<line>
//それが、アンブレラの創始者オズウェル．　Ｅ．　スペンサーの存在である。<end>

Từ ngày xưa,Wesker đã không nắm được bụng dạ của Spencer.<line>
Có thể nói việc lão đầu tư quá mức cho việc khai phá vũ khí<line>
sinh học (B.O.W.) là điều bất thường.<line>
Vũ khí sinh học vốn có lợi điểm là có thể khai phá với giá<line>
rẻ.Nếu nghĩ đến việc kết hợp nó với hệ thống vũ khí thông<line>
thường thì đâu cần thiết phải khai phá B.O.W. tới mức quá<line>
cực đoan như thế này.<line>
Tại sao lão ta lại cố chấp vào B.O.W. đến nước đó?<line>
Để tìm câu trả lời,trước kia Wesker đã từng dấn thân vào<line>
bộ phận tình báo của Umbrella.<end>
//ウェスカーは、昔からスペンサーの真意を測りかねていた。<line>
//彼の過剰なまでの有機生命体兵器（Ｂ．Ｏ．Ｗ．）開発に対する投資は異<line>
//常とも言えた。<line>
//本来、生物兵器のメリットは安価に開発できる点にある。<line>
//通常の兵器システムとの併用を考えれば、ここまで極端なＢ．Ｏ．Ｗ．開発<line>
//は必要ない。<line>
//どうしてそこまでＢ．Ｏ．Ｗ．に固執するのか。<line>
//かつてウェスカーは、その答えを探るため、アンブレラの情報部へと身を置<line>
//いたこともあった。<end>

Nghi vấn đó lại trỗi dậy một lần nữa.Để tìm câu trả lời cho<line>
câu hỏi đó,Wesker đã tìm kiếm tung tích của Spencer.Nhưng<line>
từ sau khi Umbrella sụp đổ,không,kể từ trước đó rồi,thì bóng<line>
dáng Spencer đã biến mất khỏi hoạt động bề ngoài,chẳng ai<line>
rõ lão đã đi đâu về đâu.<line>
Wesker đã sử dụng hết mọi thứ hắn có.<line>
Cả thời gian,cả tiền bạc,dùng cả sức mạnh của tổ chức.<line>
Cuối cùng hắn cũng dò ra tung tích của Spencer.<end>
//その疑問が、再び頭をもたげるようになったのだ。<line>
//ウェスカーは、その疑問の答えを求めてスペンサーの行方を捜した。<line>
//しかし、アンブレラ崩壊後、いやそのもっと以前からスペンサーは表舞台<line>
//から姿を消し、行方知れずとなっていたのだ。<line>
//持てる物は全て使った。<line>
//金も時間も、組織の力も全て使い、ついにウェスカーはスペンサーの行<line>
//方を捜し出したのだった。<end>

Trong một đêm đầu thu sấm chớp không ngừng,tại một cổ<line>
thành Châu âu,Wesker tìm đến bên Spencer.<line>
Những tưởng Spencer sẽ kinh ngạc,nhưng khi thấy bóng dáng<line>
Wesker thì mắt lão ánh lên một vẻ hoan nghênh tối tăm,khô khốc.<line><line>
"Về rồi đấy à..."<line><line>
Spencer vừa thừa thầm,giọng xen lẫn tiếng cười khô khốc.<end>
//欧州の古城、雷が鳴り止まぬ初秋の夜、ウェスカーはスペンサーのもとを<line>
//訪れた。<line>
//驚くかと思われたスペンサーは、ウェスカーの姿を見ると、その干からび<line>
//落ち込んだ眼窩の底で暗い歓喜を光らせた。<line>
//<line>
//「戻ったか……」<line>
//<line>
//スペンサーは、そう呟くと乾いた咳混じりに笑った。<end>

Wesker lại chẳng hiểu được bụng dạ của lão già này.<line>
Cái cảm giác này,hắn đã nếm biết bao lần khi còn ở Umbrella.<line>
Thân thể gầy mòn như cành cây khô của lão toát ra một sức<line>
nặng,bám dính ghê gớm.<line>
Sức mạnh của ý chí tuyệt đối,như muốn nuốt chửng hết mọi<line>
thứ và buộc nó phải nhảy múa trên lòng bàn tay của lão.<line>
Đây chính là cội nguồn khiến hắn thấy bực dọc,là nỗi canh<line>
cánh lớn nhất tiềm tàng bên trong hắn.<line>
Dường như nhìn thấu cả bên trong hắn,Spencer mới bắt đầu<line>
kể lại.<end>
//ウェスカーは、またもこの老人の真意を測りかねていた。<line>
//アンブレラにいた当時、何度も味わったこの感覚。<line>
//この枯れ枝のように弱々しい体を持つ老人から発せられる重く、粘つく<line>
//ような存在感。<line>
//全てを飲み込み、この自分さえも掌で踊らせてしまうような絶対的な<line>
//意思の力。<line>
//これが自分をイラつかせる元凶であり、内に潜む最大の違和感の正体<line>
//だった。<line>
//その内面を見透かしたかのように、スペンサーは語り始めた。<end>

Đối với lão thì việc khai phá vũ khí sinh mệnh thể hữu cơ<line>
chẳng qua chỉ là một phương tiện để đạt mục đích thật sự<line>
mà thôi.<line>
Mục đích thật sự của lão là dùng virus để cưỡng chế nhân<line>
loại tiến hóa.<line>
Đó là sự kết thúc của nhân loại hiện tại đã kéo dài 20 vạn<line>
năm qua,và sự ra đời của nhân loại mới.<line>
Sáng tạo nên thế giới hoàn hảo cho nhân loại mới,và ở đó<line>
lão sẽ trở thành vị thần.Đó mới là ý đồ thực sự của lão.<line><line>
Và để thực hiện lý tưởng lệch lạc đó thì lão cần 3 yếu tố.<end>
//彼にとって有機生命体兵器開発は、真の目的を達成させるための<line>
//手段でしかなかった。<line>
//彼の真の目的は、ウィルスによる人類の強制進化。<line>
//２０万年続いた現生人類の終焉と、新生人類の誕生。<line>
//新たな人類により理想郷を創造し、そこで神となるのが彼の真の目的<line>
//だったのだ。<line>
//<line>
//そして、その歪んだ理想を実現させるために彼が必要としたものが３つ<line>
//あった。<end>

Thứ nhất là "virus thủy tổ".Nếu không có nó thì việc sáng<line>
tạo thế giới lý trưởng chỉ là giấc mơ hão huyền của lão<line>
mà thôi.Và virus thủy tổ chính là thứ kéo giấc mơ đó về<line>
thế giới hiện thực.<line>
Thứ hai là "Umbrella".Không nói thật bụng với ai và để thúc<line>
đẩy nghiên cứu virus thủy tổ thì mục đích khai phá để sử<line>
dụng vũ khí là một cái cớ thích hợp với lão.<line>
Do vậy nên đối với lão,Umbrella và lợi nhuận thu được từ<line>
chỉ là một thứ phụ phẩm không hơn không kém.<end>
//一つは「始祖ウィルス」。<line>
//始祖ウィルスがなければ、彼の理想郷創造など彼自身の夢想にしかす<line>
//ぎない。<line>
//その夢を現実世界へと引きずり出したのが、始祖ウィルスの存在だった。<line>
//<line>
//二つ目は「アンブレラ」<line>
//彼の真意を誰にも悟られることなく始祖ウィルスの研究を進めるのに、兵<line>
//器利用目的の開発というのはうってつけだった。<line>
//そのためのアンブレラであり、彼にとって、ここから得られる利益など副次的<line>
//なものに過ぎなかった。<end>

Và thứ ba là "Wesker".Sống trong thế giới lý tưởng mà Spencer<line>
vẽ nên phải là nhân loại lý tưởng mới được.<line>
Nhưng thế nào là nhân loại lý tưởng?<line>
Đó là nhân loại mới được virus thủy tổ thúc đẩy tiến hóa.<line>
Dĩ nhiên,đó là tiền đề lớn.Nhưng nếu kẻ được thúc đẩy tiến<line>
hóa lại là nhân vật không tuân theo ý mình thì sao?<line>
そして三つ目が「ウェスカー」である。スペンサーが思い描く理想郷。<line>
そこに住まう者たちも、理想的な人類でなくてはならない。<line>
では、理想的な人類とは<？><line>
始祖ウィルスにより進化を促された新生人類。<line>
もちろん、それは大前提である。<line>
しかし、進化を促された者が自分の意に沿わないような人物であったら<line>
どうなる<？><end>

Dù có tiến hóa,có được thể xác và lý trí siêu nhân nhưng<line>
tri thức,lý luận quan,thường thức của kẻ đó vẫn không đổi.<line>
Nếu kẻ biếng nhác bất tài được chọn làm nhân loại mới thì sao?<line>
Chúng sẽ làm vấy bẩn thế giới lý tưởng,là vết dơ không tẩy<line>
sạch được.Đó là tình huống cần phải tránh.<line>
Cho nên Spencer đã thực hiện một kế hoạch nữa.<line>
Kế hoạch này được lấy theo tên của người chủ nhiệm nghiên<line>
cứu,là "kế hoạch Wesker".<end>
//進化し、超人的な肉体と知性を手に入れたとしても、その者の知識、<line>
//倫理観、常識は変わることはない。怠惰で無能な者が新生人類として<line>
//選ばれたとすればどうなるか。それは彼の理想郷を汚す、決して落ちない<line>
//シミとなってしまうだろう。どうしても避けねばならない事態である。<line>
//そのためスペンサーは、一つの計画を実行することにした。<line>
//この計画は、主任研究者の名前を取り「ウェスカー計画」と呼ばれる<line>
//こととなった。<end>

Mấy trăm đứa trẻ nhiều chủng tộc khác nhau được tập hợp<line>
về từ khắp nơi trên Thế giới theo kế hoạch.<line>
Tất cả đều là những đứa trẻ được sinh ra từ những bậc cha<line>
mẹ đầy tài năng.Nếu không thay đổi được tri thức,luận lý<line>
quan,thường thức thì thì ngay từ ban đầu chỉ cần cho chúng<line>
thứ mà ta muốn là được.Lão ta nghĩ vậy.<line><line>
計画に沿い、世界中のあらゆる人種から数百名の子供が集められた。<line>
いずれも才能あふれる両親から生まれた子供たちである。<line>
知識、倫理観、常識を変えることができないのであれば、最初からこちら<line>
が望むものを与えてしまえばいい、彼はそう考えたのだ。<end>

Như vậy,từng đứa trong lũ trẻ tập hợp về đều được đặt cho<line>
cái tên "Wesker" rồi được rải khắp Thế giới.<line>
Dĩ nhiên là đương sự không hề hay biết,và bị giám sát chặt<line>
chẽ.Tuy lãnh vực có khác nhau,nhưng từng đứa đều trưởng<line>
thành trong môi trường nhận được giáo dục tối cao.<line>
Và mấy năm trước,một thanh niên được thừa nhận là ưu tú<line>
đặc biệt đã được gửi đến "sở đào tạo chóp bu Umbrella".<line>
Đó chính là gã Wesker mang cái tái "Albert".<line>
こうして集められた子供たちは、それぞれに「ウェスカー」の名前が与えられ、世界中<line>
へ解き放たれた。当然、本人に気付かれることなく厳重な監視が付けられた上<line>
である。彼らは分野こそ違うが、それぞれが最高の教育を受けられる環境で成長<line>
することになるのだった。そして数年後、特に優秀と認められた一人の青年が<line>
ラクーンシティにある「アンブレラ幹部養成所」へと送られた。<line>
それが「アルバート」の名前を与えられたウェスカーである。<end>


Hành động của Albert Wesker sau đó là điều khiến Spencer<line>
vui mừng.Chỉ cần theo tiêu chuẩn của lão thì có thể nói Wesker<line>
này có đủ tư cách để trở thành nhân loại mới.<line>
Và đám Wesker khác cũng như vậy.<line>
Rồi Spencer tiến lên giai đoạn tiếp theo của kế hoạch.<line>
Đó là tiêm virus ở giai đoạn thử nghiệm cho tất cả Wesker.<line><line>

その後のアルバート．　ウェスカーの行動は、スペンサーを喜ばせるもので<line>
あった。彼の基準に沿えば、このウェスカーには十分に新生人類の資質ありと<line>
言えた。またそれは、その他のウェスカーたちも同様であった。<line>
そこでスペンサーは、計画を次の段階へと進めることにした。<line>
全てのウェスカーに、試作段階のウィルスを投与することにしたのだ。<end>

Nói cách khác,đây là một "bộ lọc" để tìm ra Wesker ưu tú<line>
thật sự.Đứa thì theo lời khuyên của người bạn thân,đứa thì<line>
dùng như một bước trong quá trình điều trị,lại có đứa bị<line>
cưỡng chế.Tất cả đều được tiêm virus ở giai đoạn thử nghiệm.<line>
Dĩ nhiên Albert Wesker cũng không phải ngoại lệ.<line>
Vì âm mưu,hắn nhận virus ở giai đoạn thử nghiệm từ đối thủ<line>
Wiliam Birkin và tự tay tiêm cho chính mình.<line>
言わばこれは、真に優秀なウェスカーを見極めるための“ふるい”である。<line>
ある者は親友から勧められ、ある者は治療の一環として、ある者は強制<line>
的に試作段階のウィルスを投与されることとなった。<line>
当然、アルバート．　ウェスカーも例外ではない。<line>
彼はライバルであるウィリアム．　バーキンから試作段階のウィルスを受け取<line>
り、策謀のために自らの手で投与したのである。<end>

Kết quả,có lẽ cũng có thể nói là "bộ lọc" đã quá khắt khe.<line>
Phần lớn Wesker đều chết,chỉ còn lại một số ít sống sót.<line>
Và Albert Wesker,một trong số những kẻ sống sót,đã biến<line>
đi đâu mất.<line><line>
結果、この“ふるい”は厳しすぎたと言えるかもしれない。<line>
ほとんどのウェスカーは死に、生き残ったのはわずかであった。<line>
そして生き残りの一人アルバート．　ウェスカーは、いずこかへと消え去った<line>
のである。<end>

Nhưng Spencer không hề hoảng hốt.Vì tất cả bọn Spencer đều<line>
được cấy một thiết bị an toàn.Đó là "cảm giác về sự tồn tại<line>
của Spencer".Đó là chân tướng của cảm giác canh cánh kéo<line>
dài trong lòng Wesker.Tức,không phải Wesker thấy lăn tăn về<line>
Spencer,mà bị buộc phải thấy lăn tăn về lão.<line>
Và Wesker đã trở lại,đúng như suy nghĩ của Spencer.<line>
だが、スペンサーはあわてなかった。<line>
全てのウェスカーには、安全装置が取り付けられていたのだ。<line>
それが「スペンサーの存在感」である。<line>
それが、ウェスカーが感じ続けた違和感の真の姿だった。<line>
ウェスカーはスペンサーのことが気になっていたのではなく、気になるよう<line>
に仕向けられていたのだ。<line>
そして、スペンサーの思惑通り、ウェスカーは戻ってきたのだった。 <end>

Nhưng Spencer đã tính nhầm một bước.<line>
Thiết bị an toàn khắc sâu trong sâu thẩm tâm lý của Wesker,<line>
chính vì nó mơ hồ nên có hiệu quả.Nếu biết được chân tướng<line>
của nó thì chẳng có lý do gì để Wesker phải ngoan ngoãn<line>
chịu trói buộc cả.Huống hồ là để một lão già sắp gần đất<line>
xa trời chi phối.<line>
"Thần linh à...Hóa ra vậy.Để ta kế thừa"<line><line>
Cùng với lời nói đó,Wesker đã tự mình cắt đứt xiềng xích.<end>
//だが、スペンサーは一つだけ計算違いをした。<line>
//ウェスカーの深層心理に刻み込まれた安全装置は、謎だったからこそ有効<line>
//だったのだ。<line>
//正体さえ分かれば、ウェスカーがそれにおとなしく縛られている理由はない。<line>
//ましてや、それが老いさらばえ、死期の間近な老人であればなおさらである。<line>
//<line>
//「神か……なるほど。俺が引き継ごう」<line>
//<line>
//その言葉と共に、ウェスカーは自ら鎖を断ち切った。 <line>
//<end>

Việc hai cựu hạ là Chris Redfield và Jill Valentine mò vào<line>
hẳn chỉ là ngẫu nhiên chăng.Wesker xem đó như điềm báo.<line>
Thứ nhân loại hiện tại đã bao lần cản trở kế hoạch của hắn.<line>
Đúng là vẫn còn nhiều đất cho sự tiến hóa.<line>
Wesker thì thầm trong lòng.<line><line>
そこにかつての部下であるクリス．　レッドフィールドとジル．　バレンタインが<line>
踏み込んできたのは、ただの偶然だったのだろうか。ウェスカーには、それが<line>
啓示に思えた。幾度も自分の計画を邪魔してくれた現生人類。<line>
確かに、まだ進化の余地はありそうだ。<line>
ウェスカーは内心呟いた。<end>

Thoát khỏi nơi đó,Wesker mang theo virus và thành quả nghiên<line>
cứu mà hắn lợi dụng địa vụ có được ở một xí nghiệp chế dược<line>
cùng tiền bạc,lần nữa lẩn xuống lòng đất.<line>
Thực sự là hắn bắt đầu bước lên bậc thang để trở thành thần<line>
linh của thế hệ tiếp theo,để thực hiện "kế hoạch Uroboros"<line><line>
そして、その場を切り抜けたウェスカーは、とある製薬企業で手にしていた<line>
地位を利用して研究成果とウィルス、そして資金を持ち出し、再び地下<line>
へと潜った。<line>
真の「ウロボロス計画」を決行するため、次世代の神となるための階段を<line>
上り始めたのである。 <end>

_１９<end>

_２０<end>

_２１<end>

_２２<end>

_２３<end>

<$00><$00><$10><$04>"Dạy về chiến đấu cho BSAA"<$00><$00><$11><$04><end>

Khi HP còn 0 thì sẽ lâm vào<line>
trạng thái "Dying" (cận tử).<line>
(tham khảo hình bên phải)<line>
<line>
<line>
Trong trạng thái "Dying" này,đồng đội<line>
(gọi lại gần <$00><$00><$19><$04><$01><$00><$19><$04>) có thể giúp ta<line>
hồi phục.Tuy nhiên bản thân không tự<line>
hồi phục được.)<white><end>

Nếu bỏ mặc trạng thái "Dying" trong một<line>
thời gian nhất định,hoặc cả Chris và Sheva<line>
đều ở trạng thái "Dying" thì sẽ bị xử là "tử vong"<line>
(Game Over) nên cần phải hết sức chú ý.<line>
<line>
<line>
<line>
 <white><end>

<$00><$00><$10><$04>(Có chữ viết nguệch ngoạc ở đây...)<$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00><$10><$04>Ban lưỡi dao phán xét cho vị khách không mời!<！><line>
<line>
Hãy chúc phúc bằng cái chết cho chúng nó!<line>
<line>
Và hãy cứu vớt chúng con!<$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00><$10><$04>Về Plaga "kiểu 2"<$00><$00><$11><$04><end>

Plaga được phát hiện ở một làng nghèo Châu<line>
đặc trưng là điều khiển vật chủ khi ký sinh.<line>
Nhờ vào đặc điểm này,có thể nhắm đến việc thương<line>
phẩm hóa loại Plaga này vì nó là một binh sĩ biết<line>
nghe mệnh lệnh một cách trung thực.<line>
Nhưng có một vấn đề khi thương phẩm hóa.<line>
Đó là việc lệch thời gian chắc chắn xảy ra từ<line>
khi tiem vào cơ thể vật chủ cho đến khi Plaga<line>
chi phối tinh thần của vật chủ.<line><white><end>

Đây là vì Plaga được cấy vào ở trạng thái<line>
trứng nên cần một khoảng thời gian từ lúc ấp<line>
trứng để trưởng thành cho tới lúc nó chiếm<line>
trung khu thần kinh.Plaga trưởng thành không<line>
lâu,nhưng khách hàng chúng ta có nhiều người<line>
nóng tính.Không thể có hiệu quả "ngay" khi cần<line>
là điểm không thành công của thương phẩm.<line><line><end>


Vì vậy Plaga kiểu cải tiến đã được khai phá.<line>
Chúng tôi gọi kiểu cải tiến này là "Plaga Type 2".<line>
Vì được cấy trực tiếp Plaga trưởng thành nên<line>
đặc điểm của Type 2 là có thể chi phố tinh<line>
thần vật chủ ngay tức khắc.<line><line><end>

Phương pháp cấy là qua đường miệng.<line>
Tức là đẩy thẳng vào miệng.<line>
Cách thức tuy thô bạo,nhưng nhiều khi cách<line>
đơn giản lại là tốt nhất.<line>
Tyoe 2 khi được cấy qua đường miệng sẽ<line>
phá vỡ thực quản,xâm nhập vào trong và<line>
ký sinh vào trung khu thần kinh mà đầu<line>
tiên là hành não,não và tủy sống.<line><end>

Theo thí nghiệm trong phòng nghiên cứu<line>
thì từ khi bị cấy Type 2 cho tới khi thần<line>
kinh bị chi phối,bình quân dưới 10 giây.<line>
Chỉ cần có tính năng này thì hoàn toàn<line>
có thể bán được như một thương phẩm.<line><end>


Còn lại chỉ là việc thu thập dữ liệu dùng<line>
thực tế.Việc này sẽ được tiến hành ở<line>
khu tự trị Kijuju.<line>
Có 3 hạng mục thử nghiệm như dưới đây.<line><line>
<line><end>

1<$C6><$02><$3F><$00>Cảm nhiễm<line>
Dừng việc cấy Type 2 giai đoạn 1 cho 10<line>
vật thí nghiệm,sau đó quan sát,điều tra<line>
tốc độ khuếch tán.<line>
Vì vậy cần trao trước một lượng đầy đủ<line>
cho 10 người thử nghiệm ban đầu.<line><line><end>



2<$C6><$02><$3F><$00>Khống chế<line>
Thực nghiệm xem có thể khống chế tính<line>
hung bạo của người bị nhiễm do Plaga<line>
gây ra đến đâu.<line>
Còn có thể trông đợi hiệu quả để thực<line>
hiện trơn tru thử nghiệm thứ 3 khi đồng<line>
thời dẫn dụ đội viên BSAA vào sâu bên<line>
trong thành phố.<line><line><end>


3<$C6><$02><$3F><$00>Chiến đấu<line>
Thu thập dữ liệu liên quan đến năng lực<line>
chiến đấu của Type 2.Đối tượng chiến<line>
đấu là đội viên BSAA đã tiến về địa phương.<line><line><line><end>

Qua các thử nghiệm trên,có thể xem là<line>
thử nghiệm đánh giá cuối cùng đối với<line>
Plaga Type 2.<line>
<line>
<line>
<line>
 <white><end>

_１１<end>

_１２<end>

<$00><$00><$10><$04>(Hình như là ghi chú thứ gì đó...)<$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00><$10><$04>Plaga <$B0><$04><$7E><$00>　Biến dị trong cơ thể?<line>
<line>
Xác suất thấp nhưng mạnh<line>
Liệu có trở thành thế mạnh kinh doanh?<line>
<line>
Nhưng rất yếu với ánh sáng<line>
　　<$AC><$04><$7E><$00><line>
Phải mau chóng cải tiến!! <$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00>ヂ<$00><$00>ヂ<$00><$00><$10><$04>(Xác chết thê thảm quá......<line>
Trong PDA vẫn còn mail chưa gửi)<$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00><$10><$04>"Báo cáo định kỳ"<$00><$00><$11><$04><end>

Vì đã có yêu cầu cứu viện nên đã xuất phát.<line>
Từ khi có thông tin cho đến trước khi đến được<line>
hiện trường thì đội Delta đã bị diệt hoàn toàn.<line>
Nhưng vì một phần tín hiệu Beacon phát ra từ máy<line>
liên lạc đã di chuyển nên phải thay đổi mục tiêu,<line>
đuổi theo Beacon.Có thể có người còn sống.<line>
<line>
<line>
<line>
 <white><end>

Đáng tiếc nhưng tín hiệu Beacon gián đoạn.<line>
Chắc chắn là tín hiệu được phát từ phía trước đây.<line>
Cổng đóng kín nên không thể thâm nhập được,<line>
nhưng chắc hẳn là có phương pháp gì đó.<line>
Sẽ tiếp tục kiểm tra.<line>
<line>
Hết.<line>
 <white><end>

<$00><$00><$10><$04>"Nhật ký trai làng"<$00><$00><$11><$04><end>

Ngày 5 tháng 4<line>
Có người tự xưng là sở trưởng của mỏ dầu đến làng.<line>
Ông ta nói muốn tiêm phòng cho toàn dân sống quanh<line>
mỏ dầu để phòng bệnh truyền nhiễm.<line>
Bọn hắn đã lừa thế hệ cha ông của ta để chiếm đất vào<line>
tay mà lập nên mỏ dầu.<line>
Có lẽ họ cảm thấy tội lỗi vì chuyện đó nên giờ đây<line>
họ hay làm những việc giúp cho làng.<white><end>

Việc đi lại trong đầm lầy khó khăn nên họ<line>
cũng giăng dây,làm cho cái bè kìa.<line>
Và đôi khi là phân phát thứ rượu Tây có<line>
hiếm nhưng không quý.Chắc lần này cũng<line>
như vậy thôi nhỉ.<line><line><end>

Người làng thì vui vẻ chấp nhận nhưng<line>
mình từ chối.Cũng chẳng có lý do đặc<line>
biệt gì.Chỉ là không ưa ánh mắt của tay<line>
sở trưởng mỏ dò tìm tới làng thôi.<line>
Chỉ có vậy thôi.<line><line><end>

Mồng tám tháng tư<line>
Tất cả người làng đã bỏ đến mỏ dầu hết,<line>
để tiêm phòng.Làng vốn nhộn nhịp,<line>
nay yên tĩnh hẳn.Cứ đủng đỉnh ngủ trưa<line>
hôm yên ắng thế này.<line><line><end>


Mồng chín tháng tư<line>
Vì đã ngủ quá nhiều hay sao mà khi chả<line>
ngủ được nữa thì thấy bên ngoài rộn ràng.<line>
Mọi người nói chuyện một cách nghiêm túc<line>
ngoài quảng trường.Bọn con nít đang sốt<line>
cao,khổ lắm.Mà không phải một đứa.Tất cả.<line><end>


Mấy bà mẹ múc nước làm mát người cho lũ<line>
con,nhưng cũng không hạ nhiệt được.<line>
Đến rạng sáng thì tất cả nghỉ thở vĩnh viễn.<line>
Đến sáng,thôn trưởng chạy đến mỏ dầu.<line>
Vì nghĩ rằng con nít chết hết là có liên<line>
quan tới việc tiêm phòng hôm qua.<line><end>

Thôn trưởng trở về,nói với mọi người<line>
rằng cái chết của lũ nít có thể là giai<line>
đoạn đầu của bệnh truyền nhiễm,nên<line>
phải tiêm phòng lần nữa.Lần này mình<line>
cũng cự lại,nhưng nếu nhiễm bệnh thì<line>
liên lụy cả làng,nên bị lôi đi tiêm phòng.<line><line><end>


Mồng mười tháng tư<line>
Xảy ra ẩu đả trong làng.<line>
Hết thảy đàn ông đều sặc sát khí.<line>
Tưởng đâu họ khùng vì con chết,nhưng<line>
không phải.Còn đàn bà thì nằm bẹp một<line>
chỗ như xác sống.Chẳng lẽ bệnh truyền<line>
nhiễm đã bắt đầu lan truyền?<line><end>


Mười một tháng tư<line>
Hôm nay chẳng thể yên lòng được.<line>
Không ngồi yên được,giống như xương<line>
sống nó đòi cựa quậy vậy.Đành ra ngoài<line>
vận động thân thể thôi.Bên ngoài có kẻ<line>
hình dong quái dị.Lột đồ,tay cầm vũ khí,<line>
mình sơn hoa văn như chiến sĩ.<line>
Có phải ngày hội đâu,sao coi bộ quái vậy.<line><end>


Toan cất tiếng,nhưng quay lại thấy khuôn<line>
mặt đó thì tắt tiếng luôn.Nửa khuôn mặt<line>
phình to xấu xí,chẳng còn ra dáng mặt<line>
người nữa.<line>
Chuyện gì vậy!?<line><line><end>

Mười hai tháng tư<line>
Từ hôm qua chẳng ngớt chuyện thảm.<line>
Đám đờn ông ăn mặc như ngày xưa,<line>
liên tục tranh nhau.<line>
Lũ đờn bà thì chả biết là chết thật<line>
hay là bị giết nữa.<line><line><end>


Mười ba tháng tư<line>
Đầu óc cứ lơ mơ.<line>
Sốt à?<line>
Cũng chẳng nghĩ được nữa.<line>
Ngay giờ,ngoài cửa sổ có kẻ to lớn.<line>
Thằng đờn ông chừng 3 mét.<line>
Phải chăng là ảo giác?<line><end>

Mười bốn tháng tư<line>
Dễ chịu quá...<line><line>
Tiếng kêu thét...Bình tĩnh...<line><line><line><end>


Vui quá...<line><line>
Ta cũng...muốn giết...đứa nào đó...<line>
<line>
<line>
<line>
<line>
 <white><$06><$00><$1F><$04><end>


<$00><$00><$10><$04>"Về việc thử nghiệm Plaga Type 3"<$00><$00><$11><$04><end>

Đã 1 tuần trôi qua từ khi thử nghiệm kiểu<line>
Plaga cải tiến là "Type 3" ở vùng này.<line>
Type 3 là kiểu cải tiến với ý tưởng "nâng<line>
cao năng lực cơ thể một cách đột phá" mà<line>
những loại Plaga trước đây không làm được.<line>
Dù là loại Plaga ban đầu,nếu dùng Plaga<line>
đặc biệt gọi là giống cai trị thì có thể<line>
nâng cao năng lực cơ thể một cách đột phá.<line><end>


Nhưng số lượng của giống cai trị rất ít,lại<line>
biến đổi hình dạng rất dữ nên tùy tình<line>
huống,có khi rất khó dùng.Vậy là hỏng.<line>
Mục đích của chúng tôi là tạo ra binh sĩ<line>
có năng lực cơ thể siêu đẳng mà không<line>
bị biến đổi hình dạng.Có vậy mới bán được.<line><end>

Hình như có loại thương phẩm không dùng<line>
Plaga nhưng có cùng ý tưởng trong nghiên<line>
cứu khác thì phải.Nhưng xét về tính thân<line>
thiện với con người thì dùng Plaga vẫn<line>
là nhất.Dù có sản sinh ra binh sĩ ưu tú<line>
thế nào đi nữa mà tỷ lệ thành công thấp<line>
cũng chẳng có ý nghĩa gì.<line><end>

Rồi chúng tôi khai phá loại Plaga mới<line>
bằng cách chuyển nhân tử của Plaga giống<line>
cai trị vào loại Plaga "phổ thông".<line>
Đó chính là "Plaga Type 3".<line>
Nếu hoàn thành Type 3 thì hẳn khuynh<line>
hướng của thị trường vũ khí sinh học<line>
sẽ đón một làn gió mới.<line><end>

Nhưng đó là chuyện còn khá lâu.<line>
Qua lần thử nghiệm thực địa lần này,đã<line>
thấy nổi lên mấy vấn đề của Type 3.<line>
Đầu tiên là tỷ lệ thành công thấp.<line>
Tỷ lệ ở nam giới trưởng thành là 92%,<line>
cũng giống Plaga phổ thông.<line>
Nhưng tỷ lệ ở nữ giới và trẻ nhỏ gần 0%.<line><end>

Cho nên việc khai phá dựa trên Plaga có tỷ<line>
lệ cao chẳng có ý nghĩa gì cả.<line>
Hơn nữa,vật chủ bị biến đổi ngoại hình<line>
cũng là khuyết điểm chí mạng.Có thể thấy<line>
mọi bộ phận trong cơ thể đều biến đổi.<line>
Có thể đây là do nhân tử của Plaga giống<line>
cai trị để lại quá đậm đặc chăng.<line><line><end>

Nhưng không chỉ toàn thất bại.<line>
Mục đích nâng cao năng lực cơ thể tột<line>
bậc mà chúng tôi nhắm đến đã đã được<line>
trong chừng mực nào đó rồi.<line>
Nhất là lực nhảy,phải nói là đã tiến<line>
hóa vượt bậc.<line><line><end>

Điểm nằm ngoài dự đoán là một phần vật<line>
thí nghiệm bị biến cơ thể thành khổng lồ.<line>
Có kẻ hóa cao lớn gần 3m.<line>
Có thể cho rằng đây là do nhân tử của<line>
giống Plaga cai trị,nhưng cũng có thể<line>
nói là trong phạm vi sai số cho phép.<line><line><end>



今回の実地試験は残念な結果に終わったが、完全に失敗だった<line>
わけではない。失敗だったとしても、次に活かせばよいのだ。<line>
まだ望みはある。Cuộc thử nghiệm thực địa lần này kết thúc<line>
với kết quả đáng tiếc,nhưng không phải là thất bại hoàn<line>
toàn.Mà dù có thất bại thì lần tới chỉ cần phát huy<line>
là được.Vẫn còn có hy vọng.<line>
<line>
<line>
 <white><end>

_１０<end>

<$00><$00><$10><$04>"Hướng dẫn chới:kiểu điều khiển"<$00><$00><$11><$04><end>

Có thể thay đổi kiểu thao tác từ thiết lập bàn phím/chuột<line>
<line>
<$A0><$04><$3F><$00>Shooter<$A2><$04><$3F><$00><line>
<$00><$00><$2F><$04><$00><$00><$2F><$04><$00><$00><$2F><$04><$01><$00><$2F><$04><$00><$00><$2F><$04><$02><$00><$2F><$04><$00><$00><$2F><$04><$03><$00><$2F><$04> để di chuyển ngang,dùng chuột để chuyển hướng.<line>
<line>
<$A0><$04><$3F><$00>Pointer<$A2><$04><$3F><$00><line>
Con trỏ chỉ mục tiêu luôn hiển thị<line>
<$00><$00><$2F><$04><$00><$00><$2F><$04><$00><$00><$2F><$04><$01><$00><$2F><$04> để di chuyển trước sau,<$00><$00><$2F><$04><$02><$00><$2F><$04><$00><$00><$2F><$04><$03><$00><$2F><$04> để đổi hướng.<white><end>

_０２<end>

_０３<end>

_０４<end>

_０５<end>

<$00><$00><$10><$04>(Nháp kẹp giữa giấy cũ và giấy mới)<$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00><$10><$04>"Nhật ký người chịu trách nhiệm nhà máy"<$00><$00><$11><$04><end>

Nghe đâu phải khó khăn lắm mới đuổi được<line>
tộc Ndipaya ra khỏi di tích là để chiếm<line>
"đồng hoa" này.Nhưng việc xây dựng sau đó<line>
thì sao.Vì cố xây dựng điểm thực nghiệm<line>
trong di tích mà đã làm thay đổi mạch<line>
nước ngầm dưới lòng đất.<line>
Vì vậy mà "đồng hoa" khô cạn,hoa sắp<line>
héo đến nơi.<line><end>


Tất cả là do Brandon,chủ nhiệm nghiên cứu,<line>
người lúc nào cũng chỉ nghĩ tới nghiên cứu,<line>
nói rằng muốn mở rộng khu nghiên cứu gấp<line>
3 lần dự định ban đầu.<line>
Kết quả của việc này là người tiền nhiệm<line>
của ta là Peter,cuối cùng bị sa thải khỏi<line>
vị trí người chịu trách nhiệm cho nhà<line>
máy.Kể cũng tội nghiệp.<line><end>

Rốt cuộc,kẻ làm hoa khô héo là ta cũng<line>
chung sống phận.Không thể đồng tình được.<line>
Phải mau chóng bảo đảm nguồn nước.<line>
Theo kết quả điều tra địa chất,hình như<line>
có mạch nước ở vị trí 500m dưới lòng đất.<line>
Khá sâu,nhưng nếu đặt hệ thống bơm tối<line>
tân của hãng Fabiano thì chắng không sao.<line><end>

Vấn đề là,đến bao giờ mới mang nó tới đây.<line>
Muốn nhìn lạc quan lắm,nhưng vận chuyển<line>
vật liệu cần thiết và lắp đặt ngay trong<line>
năm là điều không thể.<line>
Cho tới lúc đó chỉ có cách dùng sức người<line>
gánh nước để nước đừng cạn thôi.<line>
Có lẽ giáng sinh cuối cùng của ta ở tuổi<line>
60 sẽ kết thúc bằng việc gánh nước mất<line>
thôi.Tệ hại.<line><end> 



<$00><$00><$10><$04>(Từ chỗ này là giấy mới)<$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00><$10><$04>"Nhật ký người quản lý công trình"<$00><$00><$11><$04><end>

Hệ thống bơm nước từ dưới lòng đất để cấp<line>
cho hoa thủy tổ đang hoạt động bình thường,<line>
nhưng bây giờ cần bảo trì nhanh.<line>
Umbrella lắp đặt cái bơm này hơn 30 năm<line>
trước,từ đó cứ liên tục bơm nên cũng chả<line>
lạ.Nhất là bình lọc nước ngầm cũng đã tới<line>
giới hạn.Cần phải mau chóng thay thế.<line><end>


May mắn,ta tìm thấy nhật ký của người chịu<line>
trách nhiệm thi công của Umbrella.Theo đó<line>
thì hình như hệ thống bơm được dùng ở<line>
đây là của công ty Fabiano thì phải.<line>
Nếu là hệ thống bơm của công ty Fabiano<line>
thì bên bộ phận khai thác tài nguyên của<line>
ta cũng đang dùng.<line><end>

Quả đúng là Mister Irving đang làm sở<line>
trưởng một mỏ dầu nhỏ ở gần đây.<line>
Thử đi nhờ đằng đó xem sao.<line><line><line><line><end>



_１１<end>

_１２<end>

<$00><$00><$10><$04>"Nhật ký nghiên cứu viên chủ nhiệm Bradon.1"<$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00><$10><$04>Năm 1996<$00><$00><$11><$04><end>


Mùng 4 tháng 12<line>
Một ngày nọ,ngài Spencer nói có loài hoa<line>
gọi là "bậc thang Thái dương" mà ăn vào<line>
là có được năng lực khủng khiếp.Ban đầu<line>
cứ nghĩ đây chỉ là tin đồn nhảm,nhưng<line>
không ngờ lại mang tới kết quả như này!<line><line><end>

Người đầu tiên để ý tới khả năng đó là<line>
thầy ta,tiến sĩ James Marcus.Tiến sĩ cho<line>
rằng phải chăng đây là hiện tượng xảy ra<line>
do loại virus chưa biết làm biến đổi DNA.<line>
Thật là sáng suốt!<line>
Sự thật là suy đoán đó đã đúng.<line><line><end>

Bọn ta đã tìm thấy loại virus chưa biết<line>
là virus "thủy tổ" trong hoa đó.Đến tận<line>
Phi châu,dò tìm vùng đất này và chịu<line>
đựng thần kinh bị mài mòn do tộc Ndipaya<line>
rập rình tấn công.<line>
Công lao khổ 3 tháng nay đã được đền đáp.<line>
Đến hôm qua còn gầy mòn,giờ đây tiến sĩ<line>
Marcus tươi tỉnh hẳn.Ông muốn sớm trở<line>
về để vùi đầu vào nghiên cứu.<line><end>


Ta cũng đồng cảm.<line>
Muốn sớm làm sáng tỏ bí ẩn của loại<line>
virus thủy tổ này.<line>
<line>
<line>
<line>
<line>
<end>

<$00><$00><$10><$04>Năm 1967<$00><$00><$11><$04><end>

Ngày 12 tháng 2<line>
Chống tôi đã đụng phải bức tường.<line>
Mang loài hoa thủy tổ từ Phi châu trở về,<line>
chúng tôi muốn trồng trên đất này.<line>
Ban đầu có thử nghiệm nuôi cấy tổ chức<line>
của virus thủy tổ,nhưng vì đặc tính làm<line>
thay đổi mất DNA của nó nên không<line>
thuận lợi như mong muốn.<line><end>

Rồi tiến hành sản xuất đại trà virus thủy<line>
tổ nhờ việc nuôi trồng hoa thủy tổ.<line>
Ban đầu thuận lợi.<line>
Hoa thủy tổ có sức sống mạnh nên trưởng<line>
thành nhanh,mau chóng trổ hoa.<line>
<line>
<line>
<end>

Nhưng từ đó phát sinh vấn đề.<line>
Trong loại hoa thủy tổ này không có virus<line>
thủy tổ!Có thể môi trường nuôi trồng đã<line>
ảnh hưởng việc phát sinh của virus thủy tổ<line>
chăng.Vậy thì cần phải kiểm chứng.<line>
<line>
<line>
 <white><end>

Ngày 23 tháng 3<line>
Hoàn toàn lâm vào đường cùng.<line>
Kể từ đó đã thay đổi nhiều điều kiện<line>
nuôi trồng hoa thủy tổ.Nào là đất,nước,<line>
nhiệt độ,độ ẩm,thời gian chiếu sáng.<line>
Tất cả điều cùng điều kiện,nhưng virus<line>
thủy tổ vẫn không phát sinh.<line>
Ta mới đi bàn với tiến sĩ Marcus về<line>
phương châm nghiên cứu từ nay về sau.<line>
 <white><end>

Rồi ngài Spencer đến,nói "chấn hưng công<line>
ty".Nhưng chuyện đó sao mà chả được.<line>
Nếu không có virus thủy tổ thì có chấn<line>
hưng cong ty cũng chẳng ý nghĩa gì.<line>
Chẳng lẽ con người này không hiểu điều<line>
đó hay sao.Bực quá đi!<line>
<line>
 <white><end>

_１２<end>

<$00><$00><$10><$04>"Nhật ký nghiên cứu viên chủ nhiệm Bradon.2"<$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00><$10><$04>Năm 1968<$00><$00><$11><$04><end>

Ngày 15 tháng 4<line>
Đã 1 năm trôi qua kể từ đó mà không có<line>
thành quả gì.Virus thủy tổ mang về từ<line>
Phi cũng đã sắp cạn kiệt.<line>
Không thể lãng phí thời gian thêm nữa.<line>
Tiến sĩ Marcus và ta quyết trở lại Phi.<line>
Lại bị tộc Ndipaya bào mòn thần kinh thì<line>
cũng khổ,nhưng đó là cái giá của nghiên<line>
cứu nên đành chấp nhận thôi.<line>
 <white><end>

Nhưng một lời nói của ngài Spencer đã đập<line>
nát quyết tâm bi tráng của chúng tôi.<line><line>
"Nếu vậy thì cứ cướp mảnh đất đó.Đơn giản"<line><line>
Lúc đó bộ mặt chúng tôi đã thộn ra biết<line>
dường nào nhỉ!<line>
<line>
 <white><end>

Không hề nghĩ tới việc đó.<line>
Tuy có vẻ là ý tưởng rất hợp với tính<line>
cách thô tục của ngài Spencer,nhưng mà<line>
nghĩ cũng khó.<line>
Tiến sĩ Marcus và tôi đành chấp nhận<line>
đề án đó.<line>
<line>
<line>
 <white><end>


Ngày 19 tháng 8<line>
Cuối cùng tin sáng sủa cũng tới!<line>
Hình như đã đuổi được tộc Ndipaya ra khỏi<line>
mảnh đất đó.Thực tế chỉ chiếm được một<line>
nửa khu di tích dưới lòng đất thôi.Nhưng<line>
chỉ cần có được khu vực nuôi dưỡng hoa<line>
thủy tổ thì chẳng vấn đề gì.<line>
<line>
 <white><end>

Ngài Spencer còn nói sẽ xây dựng điểm<line>
nghiên cứu virus thủy tổ ở mảnh đất đó.<line>
Phải nói ý tưởng của ông ta tuyệt vời.<line>
Tôi và tiến sĩ Marcus toan chuẩn bị để<line>
sớm đến Phi châu thì ngài Spencer ngăn<line>
lại,nói là muốn tiến sĩ Marcus làm sở<line>
trưởng của sở đào tạo chóp bu ở Raccoon<line>
city.<line>
 <white><end>

Ban đầu không đồng ý với yêu cầu đó,nhưng<line>
nghĩ lại thì tiến sĩ cần có môi trường để<line>
nghiên cứu một cách thong thả.<line>
Giờ có sang Phi châu cũng chưa có thiết<line>
bị ra hồn để nghiên cứu.Còn lâu mới xây<line>
xong sở nghiên cứu.<line>
Vậy thì mình tôi tới Phi,chỉ cần gửi virus<line>
thủy tổ cho tiến sĩ Marcus là được.<line>
 <white><end>

Cả tiến sĩ Marcus và ngài Spencer đều<line>
đồng ý với tôi.Nếu không mau chuẩn bị<line>
cho chuyến đi Phi thì toi.Từ ngày mai<line>
là bận bù đầu rồi.
<line>
<line>
 <white><end>

Ngày 29 tháng 9<line>
Đã 2 tuần trôi qua từ khi tới Phi.<line>
Quả nhiên,không dẫn theo tiến sĩ là việc<line>
đúng đắn.Cơ sở chỉ là là cái lều với<line>
đống máy móc chồng chống.Có cả lính vũ<line>
trang được thuê để cảnh giới bộ tộc<line>
Ndipaya tập kích.Và thứ làm ta khó chịu<line>
hơn cả là tiếng ồn của công trường.
 <white><end>

Nói là để có thể nghiên cứu tốt hơn,nhưng<line>
ồn như quỷ thì ai mà nghiên cứu được!<line>
Điều tôi có thể làm được ở đây là trích<line>
xuất virus thủy tổ từ hoa thủy tổ rồi<line>
gửi cho tiến sĩ Marcus.Chỉ tập trung<line>
làm mỗi điều này thôi.
<line>
 <white><end>

<$00><$00><$10><$04>Năm 1969<$00><$00><$11><$04><end>

Ngày 15 tháng 6<line>
Cuối cùng sở nghiên cứu cũng hoàn thành.<line>
Vậy là nó trở thành sở nghiên cứu của<line>
Umbrella ở Phi châu.Nhưng có điều tôi hiểu<line>
ra qua 9 tháng vừa rồi.<line>
Là cơ sở như này thì hỏng.<line>
Cần có cơ sở rộng lớn hơn,đầy đủ hơn.<line>
Và phải thêm số lượng nghiên cứu viên.
<line>
 <white><end>

Nơi này là mặt trận tiền tuyết của sở<line>
nghiên cứu virus thủy tổ.Phát hiện ở đây<line>
sẽ giúp cho tiến sĩ Marcus khai phá loại<line>
virus mới.<line>
May mắn là cái lão Spencer hám tiền cũng<line>
đồng ý với ý kiến của tôi.<line>
Thật hiếm khi lão đồng ý với tôi.
<line>
 <white><end>

_１４<end>

_１５<end>

<$00><$00><$10><$04>「ジェームス．マーカス博士からの電報」<$00><$00><$11><$04><line>
(Điện báo của tiến sĩ James Marcus)<end>

<$00><$00><$10><$04>ワレ　ｔ－ウィルスノ　カイハツニ　セイコウセリ<line>
Tôi thành công khai phá t-virus<line><line>
Ｊａｎ．１３．１９７８ Ngày 13 tháng Giêng 1978<line>
ジェームス．　マーカス James Marcus<$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00>ヂ<$00><$00>ヂ<$00><$00><$10><$04>"Nhật ký của Brandon,trưởng sở nghiên cứu"<$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00><$10><$04>Năm 1998<$00><$00><$11><$04><end>

Ngày 16 tháng 11<line>
Sở nghiên cứu sẽ phải đóng cửa.<line>
Lạ lùng là mình thấy sao cũng được.<line>
Và nghĩ nghe nói sở nghiên cứu Arklay và<line>
Raccoon city tanh bành rồi.Cảm giác lúc<line>
đó cũng như lần này.<line>
Từ bao giờ mà ra thế này nhỉ?<line>
<line>
 <white><end>

Những ngày tháng vùi đầu nghiên cứu<line>
virus thủy tổ.Tất cả đều là vì tiến sĩ<line>
Marcus.<line>
Đúng rồi...<line>
Kể từ cái ngày hay tin tiến sĩ qua đời<line>
mười mấy năm trước,ta đã thờ ơ với<line>
tất cả mọi thứ.
<line>
 <white><end>

Chẳng giận,không vui,cũng chả kinh ngạc.<line>
Mỗi ngày chỉ trích xuất virus thủy tổ,gửi<line>
đến các sở nghiên cứu của Umbrella.<line>
Ta chỉ là cái máy đánh giá thành quả nghiên<line>
cứu của cấp dưới,chỉ báo cáo lại thứ có<line>
vẻ dùng được cho công ty mẹ.<line>
<line>
 <white><end>

Ta đã chết rồi.<line><line>
Và cái sở nghiên cứu này,nơi ta bỏ nửa<line>
đời để xây dựng nên cũng sắp đi tong.<line><line>
Chẳng còn gì để tiếc nuối.<line><line>
Đến lúc rồi chăng.<line>
 <white><end>

_０６<end>

<$00><$00><$10><$04>"Bản sao tờ gửi"<$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00><$10><$04>Sở trưởng sở đào tạo chóp bu Umbrella<line>
Tiến sĩ James Marcus<line>
<line>
Tôi gửi 5 lọ mẫu "thủy tổ".<line>
<line>
　　　　　　　　　　　　　15/12/1977<line>
　Sở trưởng sở nghiên cứu Phi châu<line>
　　　　　　　　　　　　Brandon Bailey<$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00>ヂ<$00><$00>ヂ<$00><$00><$10><$04>"Nhật ký nghiên cứu viên Miguel.1"<$00><$00><$11><$04><end>

Ngày 19 tháng 2<line>
Khi nghe nói tới sở nghiên cứu Phi châu<line>
của Umbrella thì mình có mong đợi một<line>
chút,nhưng thực tế chỉ là cái sở nghiên<line>
cứu hão danh thôi.Umbrella hay Tricell<line>
cũng chẳng có gì khác biệt ghê gớm.<line>
<line>
 <white><end>

Vì là sở nghiên cứu đã bị vứt bỏ,nên chả<line>
còn lại tư liệu gì cho ra hồn.Phần lớn<line>
máy móc đều bị chuyển đi hết rồi.<line>
Không phải là đã không lường trước,mà<line>
cũng chẳng ngạc nhiên lắm.<line>
Quan trọng là virus thủy tổ.<line>
<line>
 <white><end>

Nếu không có nói thì đâu cần phải lặn lội<line>
tới sở nghiên cứu cũ kỹ của Umbrella.<line>
Bọn ta có trong tay t-virus và G-virus,<line>
t-Veronica cũng có luôn.Cả Plaga nữa.<line>
Mọi thứ đều nằm trong tay.<line>
<line>
 <white><end>

Nhưng không thấy virus thủy tổ,thứ quan<line>
trọng nhất đâu cả.Nhưng cuối cùng cũng<line>
có được nó.Chắc chắn nó sẽ mang nhiều<line>
tiến bộ tới cho sở nghiên cứu của chúng<line>
ta.<line>
Hồi hộp quá.<line>
 <white><end>

Ngày 7 tháng 3<line>
Ai đặt cho cái tên Licker nhỉ.<line>
Đúng là cái tên rất hợp khi thấy cái<line>
lưỡi dài của nó.Nhưng nó là B.O.W. nguy<line>
hiểm đối với người nghiên cứu.Nói nói<line>
quá hoàn thiện là quá khen chăng.<line>
Có thể đã tới đường cùng của tiến hóa rồi.
<line>
 <white><end>

Việc dùng virus thủy tổ để thúc đẩy tiến<line>
hóa cho B.O.W. đã biến dị nhờ tác dụng<line>
của t-virus không mấy thuận lợi.<line>
Đúng là mặt năng lực có chút cải tiến.<line>
Nhưng cơ quan cảm giác,khứu giác đã<line>
kém đi ít nhiều.<line>
<line>
 <white><end>

Nhưng chỉ là vậy thôi.<line>
Hình dáng xấu xí của nó phù hợp với việc<line>
nó không có thị lực.Điểm tiến hóa lớn có<line>
là là năng lực sinh đẻ chăng.<line>
Quả thật không phải muốn gì cũng được.<line>
Mà từ giờ sẽ có nhu cầu B.O.W. nên cứ<line>
xem vậy cũng được rồi.
<line>
 <white><end>

_０８<end>

<$00><$00>ヂ<$00><$00>ヂ<$00><$00><$10><$04>"Mail gửi người bạn"<$00><$00><$11><$04><end>

Đột nhiên ta được nghỉ phép.<line>
Cũng sắp kết thúc đợt khai phá virus kiểu<line>
mới,nên có thể xem là phần thưởng chăng.<line>
Ngày mai,toàn bộ nghiên cứu viên đều rời<line>
khỏi đây để về nước.Ta tính quay lại<line>
Arizona.Lâu lắm mới về quê.<line>
 <white><end>


Vốn là ta thấy vui vì được rời xa kẻ tự<line>
xưng là thiên tài Miguel.<line>
Miguel là tay nhân viên nghiên cứu ngồi<line>
cạnh ta.Đúng là hắn có tay nghề,nhưng ý<line>
tưởng tồi tàn và con mắt nhìn nhận kém,<line>
nhưng hễ mở mồm ra là tự phụ lắm.Ngồi<line>
cạnh một kẻ như vậy suốt thì khổ chừng<line>
nào,mi có tưởng tượng được không?<line>
 <white><end>


Câu chuyện đi lệch đề rồi...<line>
Dù sao thì cũng không thể trở lại trong<line>
2~3 ngày.Ta với mi cùng chén thù chén<line>
tạc suốt đêm như ngày xưa nhá.<line>
Thôi bai mi.<line>
Ryan<line>

 <white><end>

_０４<end>

_０５<end>

_０６<end>

<$00><$00><$10><$04>"Chú ý khi sử dụng Uroboros virus"<$00><$00><$11><$04><end>

Cảnh báo!<line>
+ Hướng dẫn này viết về giải thích quan trọng<line>
trong việc sử dụng Uroboros virus.<line>
+ Nếu sử dụng khác với phương pháp được<line>
viết ở đây có thể nguy hiểm đến tánh mạng.<line>
+ Nếu sử dụng khác với phương pháp được<line>
viết ở đây có thể nguy hiểm đến tính mạng<line>
của những người chung quanh.<line>
 <white><end>

+ Người thử nghiệm được tiêm có xác suất<line>
tử vong cao.Hãy chú ý khi chọn người thử.<line>
+ Hãy tuân theo chỉ thị ở đây để sử dụng<line>
virus này đúng cách.
<line>
<line>
 <white><end>

Hãy ước lượng mức tiêm ứng với thể trọng<line>
của người thử nghiệm như dưới đây.<line><line>
Trên 60 kg                     : 1 mũi<line>
Từ 40 đến dưới 60 kg    : khoảng 2/3 mũi<line>
Trên 20 đến dưới 40 kg : khoảng 1/2 mũi<line>
Chưa đầy 20 kg             : khoảng 1/3 mũi<line>

 <white><end>

Sau khi tiêm,người thử nghiệm có thể có những<line>
triệu chứng như dưới đây,không phải bất thường.<line><line>
Triệu chứng:đổ mồ hôi,loạn hô hấp,bần thần,ảo giác.<line><line>
Sau khi tiêm,virus sẽ phân biệt với DNA của người<line>
thử nghiệm.Nếu thích hợp thì hoạt động của virus<line>
sẽ tạm lắng xuống.
<line>
 <white><end>

Nếu không thích hợp,virus sẽ lấy vật chất hữu cơ<line>
chung quanh để bắt đầu sinh sôi bản thân.<line>
Ngoài ra,nó còn gây hại cho thể hữu cơ chung quanh<line>
nên hãy cách ly xác chết của người thử nghiệm,hoặc<line>
xử lý theo phương pháp thích hợp như thiêu.<line>
<line>
 <white><end>

Virus dùng vật chất trong cơ thể người thử nghiệm<line>
để tạo ra nang bào virus dạng con đĩa màu đen và<line>
đẩy ra khỏi cơ thể.Nang bào virus được xác nhận<line>
là có trí khôn nguyên thủy,cảm nhận được vật chất<line>
hữu cơ chung quanh để bắt giữ,ăn và sinh sản.<line>
Nang bào virus đơn lẻ không đe dọa gì,nhưng thể<line>
tập hợp nang bào của virus sẽ tấn công vào sinh<line>
mạng thể đang hoạt động nên phải hết sức chú ý.<line>
 <white><end>

Trường hợp khi tiêm virus và xác nhận DNA thích<line>
hợp,có nghĩa vụ nhanh chóng báo cáo đến bộ phận<line>
cần thiết.<line>
Trường hợp không thích hợp và khó xử lý thì phải<line>
liên lạc với bộ phận được ghi ở tài liệu khác.<line>
Sau khi liên lạc,hãy tuân theo chỉ thị của bộ phận.<line>

 <white><end>

_０８<end>

_０９<end>

<$00><$00><$10><$04>"Hướng dẫn thao tác Laser vệ tinh Shango"<$00><$00><$11><$04><end>

Laser vệ tinh Shango là hệ thống xạ kích cao độ có<line>
thể bắn mục tiêu với sai số vài chục cm sau khi<line>
nhận thông tin vị trí chiếu xạ từ "L.T.D."<line>
(thiết bị đo lường vị trí kiểu Rocket Launcher)<line><line>
Phương pháp thao tác như dưới đây.<line>
<line>
 <white><end>

1.Ngắm L.T.D.,bắt mục tiêu bằng Target scope.<line><line>
2.Sau khi bắt mục tiêu thì thông tin bắt đầu được<line>
chuyển đến vệ tinh.Trong khi chuyển,vòng tròn đỏ<line>
sẽ tập trung vào phần giữa Target scope.<line>
<line>
<line>
 <white><end>

　<$CC><$04><$3B><$00>
Khi AI nhận định mục tiêu đánh giá là mục tiêu đã<line>
trượt khỏi Target scope thì tín hiệu truyền đến vệ<line>
tin sẽ bị chặn lại.<line>
<line>
3.Khi chữ "LOCK ON" được hiển thị là tính hiệu<line>
truyền đến vệ tinh đã hoàn tất.Kéo cò,phát xạ Laser.<line><line>
4.Để phát xạ lần nữa,cần một khoảng thời gian<line>
nạp điện.<white><end>

_０４<end>

_０５<end>

<$00><$00><$10><$04>"Sổ tay Spencer"<$00><$00><$11><$04><end>

Ngay vừa rồi nhận được báo cáo Raccoon city đã<line>
tuyệt diệt.Cuối cùng bọn Mỹ cũng động thủ rồi sao.<line>
Một đất nước chưa từng khắc nỗi đau chiến tranh do<line>
ngoại bang gây ra,giờ lại tự tay xẻ thịt thì quả là<line>
trớ trêu lắm thay.<line>
Nhưng dù sự đe dọa của t-virus có rõ ràng đến đâu<line>
đi nữa,thì việc vứt bỏ hơn 10 vạn con người cũng<line>
không được dân chúng của đất nước đó bỏ qua đâu.<line><line>
<white><end>

Nếu sự thật được phơi rõ trắng đen thì khó lòng duy<line>
trì được chánh phủ hiện tại.Chẳng thể nghĩ rằng đó<line>
là điều gã kia mong đợi.Nhưng nếu vậy thì thật khó<line>
tưởng tượng rằng mũi rìu lại chĩa vào Umbrella.<line>
Liệu hành động ngu xuẩn của chánh phủ có bị che<line>
giấu để một mình Umbrella phải gánh chịu trách<line>
nhiệm tiêu diệt Raccoon city chăng.<line>
<line>
 <white><end>

Umbrella sẽ chung vận mệnh với Raccoon city.<line>
Nhưng sẽ như thế nào nhỉ.Umbrella chẳng qua<line>
chỉ là "vật chứa" được tạo ra để nghiên cứu virus<line>
thủy tổ thôi.<line>
Dẫu "vật chứa" có bị đập vỡ,miễn là bên trong vẫn<line>
vô sự thì chẳng vấn đề gì cả.<line>
<line>
 <white><end>


Vấn đề phiền toái chỉ là bọn nhân viên bất tài bám<line>
vào "vật chứa" thôi.Nếu bí mật virus thủy tổ được<line>
giữ vững thì có thể chấn hưng bất cứ lúc nào.<line>
Để chuẩn bị cho việc đó nên ta đã làm mọi thứ<line>
cẩn thận.<line>
<line>
<line>
<line>
 <white><end>

Cuối thập niên 80,đã nuôi cấy thành công virus<line>
thủy tổ,vốn là việc không thể trước đó.<line>
Hạn chế nguồn cung cấp ở sở nghiên cứu Phi châu<line>
và quản lý chặt chẽ cũng là vì vậy.<line>
Thông tin địa điểm của sở nghiên cứu Phi châu<line>
được kiểm soát chặt chẽ,chỉ một số rất ít người<line>
trong công ty nắm được.<line>
Cũng hạn chế di chuyển nhân lực,người được di<line>
chuyển từ sở nghiên cứu Phi châu đến bộ phận khác<line>
cũng bị giám sát gắt gao.<line>
<white><end>

Cái đám như sở trưởng Bailey gần như là bị giam ở<line>
sở nghiên cứu đó gần 30 năm.Hắn làm việc suốt từ<line>
đó cũng là vì cái ngày này.<line>
Sau này chỉ cần ra lệnh đóng cửa sở nghiên cứu<line>
Phi châu là được.Nếu như vậy thì mọi chuyện sẽ<line>
thuận lợi như dự định.<line>
<line>
 <white><end>

Sự tồn tại của sở nghiên cứu Phi châu biến mất khỏi<line>
tất cả tài liệu của Umbrella.<line>
Tài liệu được để lại chỉ giới hạn trong ký ức của<line>
cán bộ chóp bu cấp cap có thể truy cập vào thông<line>
tin cấp độ 10 mà thôi.Những kẻ khác thì chịu cùng<line>
số phận với sự tồn tại của sở nghiên cứu.<line>
Tất cả đều là để bảo hộ cơ mật hoàn hảo nhất.<line>
Càng ít kẻ biết vị trí của kho báu càng tốt.
<line>
 <white><end>

<$00><$00><$10><$04>(Có tờ giấy đã in ra kẹp trong sổ tay)<$00><$00><$11><$04><end>

<$00><$00><$10><$04>"Danh sách quyền truy cập thông tin cơ mật"<$00><$00><$11><$04><end>

<$A8><$04><$7E><$00>Cấp độ 10<line>
　　Ozwell.S (đã chết)<line>
　　Henning. P (đang bị giam)<line>
　　Masaki T (đã chết)<line>
　　Jenny K. (không rõ nơi chốn)<line>
　　Carlos M (xác nhận nơi chốn<$B0><$04><$7E><$00>sau khi thu thập tin tức:giết)<line>
<line>
 <white><end>

<$A8><$04><$7E><$00>Cấp độ 9<line>
　　Brandon B. (đã chết)<line>
　　Frank E. (đã chết)<line>
　　Isabella C. (đã chết)<line>
　　Greg A. (đã chết)<line>
　　Lee D. (đã chết)<line>
　　Michael K. (đã chết)<line>
　　Ethan W. (đã chết) <white><end>

_１２<end>

_１３<end>

<$00><$00>ヂ<$00><$00>ヂ<$00><$00><$10><$04>"Dữ liệu thể thực nghiệm"<$00><$00><$11><$04><end>

Thể thực nghiệm.<line>
Nữ da trắng,màu mắt lam.<line>
Đang ở trạng thái bảo tồn trong thời gian dài nhờ<line>
thuốc,nhưng mạch đập,hô hấp,huyết áp,thân nhiệt<line>
và các dấu hiệu sống khác đều trong phạm vi<line>
bình thường.
<line>
 <white><end>

Nhưng đã xác nhận có bất thường sắc tố trong cơ thể.<line>
Có thể thấy ảnh hưởng lớn nhất là tóc trắng.<line>
Ngoài ra,làn da cũng được xác nhận là có hóa trắng<line>
một chút.<line>

<line>
 <white><end>

<$00><$00><$10><$04>"Báo cáo thực thi đối sách chống rò rỉ thông tin"<$00><$00><$11><$04><end>

Báo cáo nhiệm vụ đã thi hành theo chỉ thị như nội dung dưới.<line><line>
8:53<line>
Tất cả nghiên cứu viên lên xe bus.<line><line>
8:57<line>
Xuất phát khỏi sở nghiên cứu,tiến về sân bay.<line>

 <white><end>

9:22<line>
Tất cả đối tượng xử lý rơi vào trạng thái hôn mê<line>
do khí gây ngủ.<line><line>
9:25<line>
Sau khi dừng xe,bắt đầu xử lý ngoài xe.<line><line>
9:44<line>
Xử lý kết thúc.
<white><end>

11:03<line>
Sau khi thu hồi đối tượng xử lý,trở về sở nghiên cứu.<line>
<line>
11:35<line>
Thiêu hủy đối tượng xử lý bằng lò thiêu ở<line>
khu nhà máy dưới lòng đất.Thiêu cả đồ đạc của<line>
nghiên cứu viên.<line>
 <white><end>

13:10<line>
Kết thúc thiêu toàn bộ đối tượng xử lý và tư trang.<line>
Mọi công đoạn của kế hoạch đều kết thúc.<line><line>
Hết.<line>
 <white><end>

_０５<end>

<$00><$00>ヂ<$00><$00>ヂ<$00><$00><$10><$04>"Nhật ký của Miguel,nghiên cứu viên Tricell (2)"<$00><$00><$11><$04><end>

Mồng 8 tháng 5<line>
Bọn tôi nhắm đến việc khai phá loại virus vượt trội<line>
hơn cả G-virus và t-Veronica.<line>
Biến dị quá độ,ô nhiễm tinh thần,thiếu tính ổn<line>
định là những yếu tố cần phải loại trừ.<line>
Tuy có ý kiến cho rằng không thể làm ngơ tỷ lệ<line>
bám rễ vào vật chủ và phản ứng xung đột với vật<line>
chủ,nhưng bảo đảm 3 yếu tố trên cũng không hề<line>
đơn giản.<line>
<white><end>

Đối với một người nghiên cứu bình thường thì cần<line>
phải ghi chú.<line>
2 yếu tố trong số trên đã có hướng giải quyết,<line>
yếu tố còn lại chắc là sẽ có phương pháp gì đó.<line>
Tuy là người nhà nhưng cũng có khi thấy sự mẫn<line>
cảm đó quá đáng sợ.Kẻ tài năng là như vậy sao.<line><line>
<white><end>

_０３<end>

<$00><$00><$10><$04>"Báo cáo kế hoạch W"<line>
      　　　　  28/8/1998<$00><$00><$11><$04><end>

Thể thực nghiệm 013 (tên thường gọi:Albert Wesker.Từ đây<line>
gọi là Albert) được xác nhận có liên quan đến việc phát<line>
sinh sự cố sở nghiên cứu Arklay,"kế hoạch W" nhưng<line>
đương sự đã tử vong trong sự cố này nên không rõ chi<line>
tiết như thế nào.<line>
(Việc xác định tử vong căn cứ theo quy định của bộ<line>
phận tình báo)<line>
<line>
 <white><end>

Vì cái chết của Albert mà mức độ của kế hoạch lùi<line>
18%.Vì quy định số người thích hợp để thi hành kế<line>
hoạch giảm xuống nên cần nhanh chóng đối ứng.<line>
Nếu tiến hành trong tình hình này thì có thể sẽ<line>
mang lại hậu quả nghiêm trọng cho kế hoạch.<line>
<line>
 <white><end>

Nhưng thời điểm hiện tại không có người dự bị<line>
thích hợp nên cần tuyển chọn lại trong số những<line>
người đã bị đánh giá là khiếm khuyết trước đây.<line>
Sau khi tuyển chọn lại,thực hiện điều chỉnh để số<line>
lượng người thích hợp trở về giá trị quy định,<line>
từ đó suy đoán việc tiến hành kế hoạch sẽ đạt<line>
93% trước khi Albert tử vong.<line><line>
Alex W.  Bộ phận tình báo Umbrella<white><end>

_０４<end>

<$00><$00><$10><$04>"Hướng dẫn chơi:kiểu điều khiển"<$00><$00><$11><$04><end>

Có thể lựa chọn 4 kiểu điều khiển dưới<line>
đây qua thiết lập Controller.<line>
<line>
<$A0><$04><$3F><$00>Kiểu A<$A2><$04><$3F><$00><line>
　<$00><$00><$19><$04><$04><$00><$19><$04>:di chuyển và đổi hướng,<$00><$00><$19><$04><$09><$00><$19><$04>+<$00><$00><$19><$04><$02><$00><$19><$04>:bắn súng<line>
<line>
<$A0><$04><$3F><$00>Kiểu B<$A2><$04><$3F><$00><line>
　<$00><$00><$19><$04><$04><$00><$19><$04>:di chuyển và đổi hướng,<$00><$00><$19><$04><$08><$00><$19><$04>+<$00><$00><$19><$04><$09><$00><$19><$04>:bắn súng<white><end>

<$A0><$04><$3F><$00>Kiểu C<$A2><$04><$3F><$00> <line>
　<$00><$00><$19><$04><$04><$00><$19><$04>:di chuyển ngang <$00><$00><$19><$04><$05><$00><$19><$04>:đổi hướng,<line>
　<$00><$00><$19><$04><$09><$00><$19><$04>+<$00><$00><$19><$04><$02><$00><$19><$04>:bắn súng<line>
<line>
<$A0><$04><$3F><$00>Kiểu D<$A2><$04><$3F><$00><line>
　<$00><$00><$19><$04><$04><$00><$19><$04>:di chuyển ngang <$00><$00><$19><$04><$05><$00><$19><$04>:đổi hướng,<line>
　<$00><$00><$19><$04><$08><$00><$19><$04>+<$00><$00><$19><$04><$09><$00><$19><$04>:bắn súng<line>
 <white><end>

<$00><$00><$10><$04>Giấy thực hiện kế hoạch Uroboros"<$00><$00><$11><$04><end>

Uroboros Virus ảnh hưởng đến DNA của người.<line>
Đó là đòn chí mạng đối với kẻ chẳng giá trị gì,<line>
chỉ mang di truyền tử yếu kém.<line>
Rất nhiều kẻ không chịu được sự chọn lựa đó,bò dưới<line>
đất,trở thành con rắn vô hạn nuốt chửng bản thân.<line>
Kẻ có giá trị,đáng sống sẽ sống sót.Chỉ những kẻ<line>
mang di truyền tử ưu tú thật sự mà thôi.<line><white><end>

Thế giới phía trước chẳng cần đến kẻ không có<line>
tư cách.Ngày mai,khi vầng Thái dương mọc lên<line>
thì chỉ có kẻ được lựa chọn mới có quyền sống.<line><line>
Đêm nay,Uroboros Virus sẽ được phát tán khắp<line>
Thế giới.<line>
Đúng như kế hoạch từ trước,đầu đạn missile mang<line>
Uroboros trên chiếc tiêm kích sẽ phát xạ ngay khi<line>
nó chạm đến tầng đối lưu.<line><white><end>

Virus được phát tán từ missile sẽ theo gió hướng Tây<line>
ở phần trên của tầng đối lưu mà đáp xuống các điểm<line>
chọn lọc khắp Thế giới.<line><line>
Virus không biết thương xót.<line>
Nó sẽ chọn lọc toàn bộ nhân loại.<line>
Kẻ không được lựa chọn sẽ trở thành vật chủ của<line>
Uroboros mà tìm kiếm vật chủ tiếp theo.<line><white><end>

Chẳng ai có thể ngăn được sự liên hoàn đó.<line>
Tiếng kêu khóc của 6 tỷ sanh mạng hẳn sẽ nhuốm<line>
đen khắp lịch sử nhân loại.<line>
<line>
<line>
<line>
<line>
 <white><end>

<$00><$00><$10><$04>"Về cá thể phát sinh biến dị trong sở"<$00><$00><$11><$04><end>

Ngày 6 tháng 5<line>
Đã phát sinh sự cố hỏa hoạn trong lúc kiểm<line>
tra chất Uroboros virus lên đạn missile.<line>
Yêu cầu cách ly tạm thời chung quanh với<line>
mức độ 4 (BL-4).<line>
<line>
 <white><end>

Ngày 11 tháng 5<line>
5 ngày sau khi cách ly với khu vực ô nhiễm.<line>
Có báo cáo rằng đột nhiện xảy ra biến dị ở<line>
sinh vật sống xung quanh.<line>
Theo nhân chứng mục kích thì lớp da ngoài<line>
hóa cứng bất thường.<line>
Không xác nhận được nang bào virus như đã<line>
thấy ở Uroboros.<line>

 <white><end>

Đây được suy đoán là trường hợp hiếm xuất hiện<line>
hy hữu với ảnh hưởng của Uroboros virus.<line>
Ngày mai hãy lập đội điều tra để bảo đảm<line>
vật mẫu.<line>
<line>
 <white><end>

Ngày 12 tháng 5<line>
Đã phái binh sĩ trang bị vũ khí nhẹ đến điều tra,<line>
nhưng gặp phải kết quả thảm hại.<line>
Từ thi hài do đội biệt động thu hồi,xác nhận được<line>
nhiều vết cắt như bị chém bằng lưỡi dao cực sắc,<line>
và nhiều vết đâm như bị đâm bằng cây giáo lớn.<line>
Ngoài ra còn phát hiện vật chất hóa học có tác<line>
dụng với thần kinh thị giác từ một thi thể khác.<line>
 <white><$06><$00><$1F><$04><end>

Nó đã biến dị như thế nào nhỉ?<line>
Có thể đối tượng điều tra được xem là một loại B.O.W.<line>
mới.Từ hiện trạng,đặc trưng khi tấn công mà tôi nghĩ<line>
nên đặt tên cho đối tượng điều tra là "Reaper".<line>
Có lẽ về sau cũng cần thiết tiếp tục điều tra.<line>

 <white><end>

_０６<end>

．　．　．　．　．　．　（中点ｘ６）<line>
……（２点ｘ３）<line>
．．．．．．（ピリオドｘ６）<line>
－－－－－－（半ハイフンｘ６）<line>
______（半アンダーｘ６）<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

ダミー<end>

#JMP($08)
<$AB><$BC><$06>